Gốm Cổ Việt Nam – Những Hằng Số Văn Hóa
laocovat
Thứ Ba, 19 Tháng Năm 2026
Gốm là một trong những phát minh quan trọng của tổ tiên ta từ ngàn đời nay. Đồ gốm ra đời và ngay lập tức đã gắn bó mật thiết với cuộc sống hằng ngày. Với trí sáng tạo và đôi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân, gốm cổ Việt Nam đã trở thành một loại hình nghệ thuật chứa đựng tính dân gian và tính dân tộc sâu sắc.
Tính dân gian được thể hiện trong nghệ thuật gốm truyền thống rất sâu đậm bởi lẽ, nơi trú ngụ bình yên và lâu dài của nghệ thuật gốm là thôn dã, dân gian,… Điều này là do sự phát triển của lịch sử nghệ thuật gốm cũng như nhu cầu phân hóa tự nhiên của xã hội.
Gốm hay chất liệu đất nung vốn không phải ra đời ngay cùng với con người và xã hội loài người như đá, tre, gỗ… Đất nung xuất hiện trong “cách mạng nghệ thuật” (sự ra đời và phát triển của nghệ thuật tạo hình) cách ngày nay 3-4 vạn năm. Đến “cách mạng kinh tế” (sự ra đời của trồng trọt và chăn nuôi), đồ gốm ồ ạt ra đời với những hoa văn trang trí đơn giản. Và tới “cuộc cách mạng luyện kim” (nghề luyện kim ra đời), nghệ thuật gốm đã đạt tới đỉnh cao cả về tạo dáng lẫn trang trí.

Tượng Mèo, gốm hoa nâu, thời Lý, thế kỷ 11- 13.
Tuy nhiên, khi nghề luyện kim ra đời cùng nghệ thuật đồng thau phát triển, với nhu cầu của tầng lớp trên trong xã hội đã dần dần lấn át nghệ thuật gốm. Lúc này, nghệ thuật gốm được gìn giữ và lưu truyền trong dân gian và dần dần khẳng định được vị thế trong cuộc sống của nhân dân. Tính dân gian của nghệ thuật gốm do vậy mà càng sâu đậm.
Nghệ thuật gốm Việt Nam, bên cạnh tính dân dã còn mang đậm đà tính dân tộc. Sự phát minh ra men và gốm sành, sứ tráng men đã khiến cho nghệ thuật gốm Việt Nam được phục sinh và phát triển rực rỡ, được đưa lên bình diện dân tộc.
Với những nét độc đáo riêng có, gốm sứ Việt Nam đã trở thành “sứ giả” giao thương với quốc tế khiến cho thế giới biết được không chỉ là tài nghệ thủ công của người Việt Nam mà còn cho họ hiểu được bản sắc văn hóa của dân tộc “con Rồng cháu Tiên”. Những nét riêng, độc đáo đó thể hiện ở một số khía cạnh sau:
Nét vượt trội về chất liệu gốm Việt Nam là đất nung, đồ sành, đồ đàn. Trong quá khứ, cái chất liệu sứ quá mong manh, nó không thích hợp với tâm thức Việt Nam cổ truyền “ăn chắc, mắc bền” của người dân áo vải tiểu nông chiếm đại đa số trong dân tộc Việt Nam.

Tượng voi, gốm men trắng, thời Nguyễn, thế kỷ 19.
Xuất phát từ tính nhị phân trong văn hóa, trong nghệ thuật gốm cũng không thấy rõ sự phân biệt rạch ròi giữa “lò quan” và “lò dân dã” như nghệ thuật gốm sứ Trung Hoa. Tầng lớp trên của Việt Nam, nếu một lúc nào đó thích tiêu xài xa xỉ, thì họ mua đồ sứ Trung Hoa chứ chủ yếu không phải là thiết kế và thi công “lò quan” riêng ở kinh thành hay ở một nơi nào đó.
Gốm – sành – đàn Việt Nam là sự phóng rọi của cái giản dị - chất phác của người tiểu nông Việt Nam, thường chỉ có một hai màu: nâu – ngà, lam – trắng, nâu – đỏ gạch tuyền… Gốm Việt Nam không hấp dẫn người dùng, người chơi bởi màu sắc và hòa sắc mà bởi cái giản dị đơn sắc có chiều sâu đậm nhạt, lung linh, ẩn hiện, sắc rõ hay nhạt nhòa…
Gốm hay chất liệu đất nung vốn không phải ra đời ngay cùng với con người và xã hội loài người như đá, tre, gỗ… Đất nung xuất hiện trong “cách mạng nghệ thuật” (sự ra đời và phát triển của nghệ thuật tạo hình) cách ngày nay 3-4 vạn năm. Đến “cách mạng kinh tế” (sự ra đời của trồng trọt và chăn nuôi), đồ gốm ồ ạt ra đời với những hoa văn trang trí đơn giản. Và tới “cuộc cách mạng luyện kim” (nghề luyện kim ra đời), nghệ thuật gốm đã đạt tới đỉnh cao cả về tạo dáng lẫn trang trí.

Lọ hình rùa, gốm hoa lam, thời Lê sơ, thế kỷ 15.
Tuy nhiên, khi nghề luyện kim ra đời cùng nghệ thuật đồng thau phát triển, với nhu cầu của tầng lớp trên trong xã hội đã dần dần lấn át nghệ thuật gốm. Lúc này, nghệ thuật gốm được gìn giữ và lưu truyền trong dân gian và dần dần khẳng định được vị thế trong cuộc sống của nhân dân. Tính dân gian của nghệ thuật gốm do vậy mà càng sâu đậm.
Nghệ thuật gốm Việt Nam, bên cạnh tính dân dã còn mang đậm đà tính dân tộc. Sự phát minh ra men và gốm sành, sứ tráng men đã khiến cho nghệ thuật gốm Việt Nam được phục sinh và phát triển rực rỡ, được đưa lên bình diện dân tộc.
.jpg)
Chân đèn cánh sen thời Lý ( Nguồn ảnh: Lão Cổ Vật )
Với những nét độc đáo riêng có, gốm sứ Việt Nam đã trở thành “sứ giả” giao thương với quốc tế khiến cho thế giới biết được không chỉ là tài nghệ thủ công của người Việt Nam mà còn cho họ hiểu được bản sắc văn hóa của dân tộc “con Rồng cháu Tiên”. Những nét riêng, độc đáo đó thể hiện ở một số khía cạnh sau:
Nét vượt trội về chất liệu gốm Việt Nam là đất nung, đồ sành, đồ đàn. Trong quá khứ, cái chất liệu sứ quá mong manh, nó không thích hợp với tâm thức Việt Nam cổ truyền “ăn chắc, mắc bền” của người dân áo vải tiểu nông chiếm đại đa số trong dân tộc Việt Nam.
Xuất phát từ tính nhị phân trong văn hóa, trong nghệ thuật gốm cũng không thấy rõ sự phân biệt rạch ròi giữa “lò quan” và “lò dân dã” như nghệ thuật gốm sứ Trung Hoa. Tầng lớp trên của Việt Nam, nếu một lúc nào đó thích tiêu xài xa xỉ, thì họ mua đồ sứ Trung Hoa chứ chủ yếu không phải là thiết kế và thi công “lò quan” riêng ở kinh thành hay ở một nơi nào đó.
Gốm – sành – đàn Việt Nam là sự phóng rọi của cái giản dị - chất phác của người tiểu nông Việt Nam, thường chỉ có một hai màu: nâu – ngà, lam – trắng, nâu – đỏ gạch tuyền… Gốm Việt Nam không hấp dẫn người dùng, người chơi bởi màu sắc và hòa sắc mà bởi cái giản dị đơn sắc có chiều sâu đậm nhạt, lung linh, ẩn hiện, sắc rõ hay nhạt nhòa…
Trang trí gốm Việt Nam – trừ gốm hoa lam với thủ pháp phóng bút, công bút mang tính hội họa, rõ ràng có ảnh hưởng của nghệ thuật bút lông Trung Hoa, thì nét phóng khoáng, dáng hình thường mập mạp, bố cục nói chung thoáng đãng mà không rậm rạp, họa tiết thiên về ước lượng mà không đi vào chi tiết, tượng trưng mà không quá nệ thực, thủ pháp phối hợp vừa nhìn nghiêng vừa nhìn từ trên xuống, chứ không phải là thấu thị theo luật xa gần của nghệ thuật phương Tây.

Hộp phấn cánh sen thời Lý ( Nguồn ảnh: Lão Cổ Vật )
Tiếp cận nghệ thuật gốm – sứ Việt Nam, chúng ta liên tưởng đến tranh dân gian, đến điêu khắc đỗ đình làng,… Liên tưởng ấy có sở dĩ bởi gốm – sứ, tranh giấy, điêu khắc gỗ… đều toát lên cái thần thái chung của mĩ thuật Việt Nam của nghệ thuật dân gian, mà công sức tiếp cận bấy lâu nay của giới sử học và mĩ thuật học Việt Nam đã cho phép ta tổng kết được và rút ra được những chuẩn mực để thẩm nhận về cái đẹp Việt Nam.
Nguồn tư liệu:Trần Quốc Vượng, “Những hằng số văn hóa của gốm cổ Việt Nam”
#LaoCoVat #AntiqueNews #Tintuccovat #DiSanVanHoa #GomSu
Tin liên quan
laocovat
Thứ Ba, 19 Tháng Năm 2026
Địa Chỉ Cửa Hàng Chúng Tôi
Hotline: 098.13.02468
Email: contact@laocovat.com
Địa chỉ: 332 Âu Cơ - Nhật Tân - Tây Hồ - Hà Nội