Tư vấn thẩm định cổ vật

Trang chủ / Tin Tức

Tin Tức

Sửa thang máy, lọt vào thế giới 2.000 năm trước dưới hầm khách sạn

Sửa thang máy, lọt vào thế giới 2.000 năm trước dưới hầm khách sạn

Theo Ancient Origins, vào giữa năm 2023, các công nhân lắp đặt trục thang máy tại khách sạn Gran Hotel Barcino ở phường Gothic, TP Barcelona Tây Ban Nha đã vô tình tìm thấy những phiến đá cổ được sắp xếp thẳng hàng hoàn hảo, nằm ở độ sâu 2,5 mét bên dưới tầng hầm của tòa nhà.

Gốm sành Phù Lãng

Gốm sành Phù Lãng

Làng gốm Phù Lãng thuộc xã Phù Lãng huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Nằm bên bờ sông Cầu thơ mộng, Phù Lãng có phong cảnh hữu tình của đất Kinh Bắc, có đường giao thông thủy rất thuận lợi cho việc chuyên chở nguyên vật liệu và sản phẩm gốm. Cùng với Thổ Hà (Bắc Giang), Bát Tràng (Hà Nội), Phù Lãng được coi là một trong 3 trung tâm gốm cổ truyền ở đồng bằng Bắc bộ.

Cây đèn đồng hình người quỳ

Cây đèn đồng hình người quỳ

Niên đại: Văn hóa Hậu Đông Sơn
Nơi lưu giữ: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, thành phố Hà Nội, được công nhận là bảo vật quốc gia vào ngày 01/10/2012 
Cây đèn đồng hình người quỳ được phát hiện tại Lạch Trường, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Hiện vật thể hiện hình ảnh một người đàn ông mình trần, đóng khố, trong tư thế quỳ, hai tay nâng đỡ đĩa đèn. Khuôn mặt tượng bầu bĩnh, mắt mở to, miệng hơi mỉm cười, đầu đội vương miện và tóc búi chỏm.
Hai vai và phía sau tượng gắn ba thanh cong hình chữ S, mỗi thanh nâng một đĩa đèn và kèm theo một hình người đang quỳ. Trên hai đùi và phía sau tượng còn có bốn nhạc công cũng trong tư thế quỳ, trong đó có hai người đang thổi sáo. Tay và cổ tay của tượng đeo trang sức, tai đeo khuyên tròn lớn. Phần vai và quanh bụng được trang trí bằng các mô típ chuỗi hoa sen tinh xảo.
Đây là cây đèn hình người có kích thước lớn nhất trong số ít những cây đèn cùng loại thuộc giai đoạn cuối của văn hóa Đông Sơn. Hiện vật không chỉ phản ánh sự giao thoa văn hóa trong khu vực trên nền tảng văn hóa Đông Sơn bản địa, mà còn cho thấy trình độ kỹ thuật đúc đồng tinh xảo và gu thẩm mỹ cao của cư dân cổ.
 

Sưu tập đĩa vàng hoa sen Cộng Vũ

Sưu tập đĩa vàng hoa sen Cộng Vũ

Niên đại: Thời Lý (thế kỷ XI – XII).
Lưu giữ: Kho bạc Nhà nước tỉnh Hưng Yên, được công nhận là bảo vật quốc gia vào ngày 31/12/2020
 

Thạp Đồng Đào Thịnh

Thạp Đồng Đào Thịnh

Niên đại: thế kỷ III-II TCN thời kỳ văn hoá  Đông Sơn 
Lưu trữ: bảo tàng lịch sử quốc gia Hà Nội.
 

Gốm hoa lam độc sắc Việt Nam

Gốm hoa lam độc sắc Việt Nam

Gốm hoa lam, hay còn gọi là gốm men trắng vẽ lam của Việt Nam, xuất hiện muộn hơn so với gốm men trắng vẽ lam thời Nguyên của Trung Quốc. Trong khi gốm thời Nguyên nổi bật với màu lam tươi sáng, rực rỡ, thì ở Việt Nam ban đầu xuất hiện loại men hơi mờ, được xem là giai đoạn tiền men trắng vẽ lam. Những tiêu bản sớm thường là các loại âu, bát, ống nhổ, ấm… phủ men trắng, quanh miệng có một hoặc hai đường chỉ lam và thân gốm đôi khi trang trí họa tiết lá. Các phát hiện khảo cổ tại Xóm Hống (Hải Dương) và Kim Lan (Gia Lâm) cho thấy loại gốm này đã xuất hiện từ cuối thế kỷ XIV, tức thời Trần.
 

Tượng Phật Nhơn Thành

Tượng Phật Nhơn Thành

Niên đại: thế kỷ IV - VI sau Công nguyên thuộc thời kỳ văn hóa Óc Eo.   
Lưu trữ: bảo tàng thành phố Cần Thơ được công nhận là Bảo vật quốc gia vào ngày 31/12/2013.
Chất liệu làm bằng gỗ, kích thước không lớn tư thế tượng đứng thẳng, hơi lệch hông (dáng tribhanga – đặc trưng nghệ thuật Ấn Độ), khuôn mặt hiền từ, thanh thoát, thể hiện vẻ từ bi của Đức Phật, tóc xoắn ốc nhỏ, trên đỉnh có nhục kế, trang phục mặc áo cà sa dài, ôm sát thân, rủ xuống chân bệ tượng đứng trên tòa sen hai tầng, phong cách mang ảnh hưởng nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ kết hợp với phong cách địa phương thời văn hóa Óc Eo.
 

Gốm Thổ Hà

Gốm Thổ Hà

nét riêng khác biệt nhất của gốm Thổ Hà, ấy là loại gốm không có men, nung nhiệt độ cao mà tạo ra sành với nhiều sắc độ màu đen, màu nâu, màu cánh gián, màu đỏ gạch…

Long đình gốm Bát Tràng

Long đình gốm Bát Tràng

 

Niên đại: Thế kỷ XVII.
Lưu giữ: Bảo tàng Hà Nội, được công nhận là bảo vật quốc gia vào ngày 25/12/2015 
Long đình gốm Bát Tràng là một sản phẩm gốm thờ độc đáo của làng gốm Bát Tràng thế kỷ XVII. Long đình cao 59,7cm, đường kính đáy 28cm, tạo dáng tương tự loại long đình bằng gỗ chạm sơn son thếp vàng, có cấu tạo gồm 3 phần liền nhau: mái, thân và chân đế. Đỉnh mái hình búp sen, 4 mặt mái hình thang cân, các góc mái uốn cong, 4 đầu góc tạo hình mây lửa. Thân hình khối hộp chữ nhật. Mặt trước có tường vây lan can. Chân đế hình khối hộp chữ nhật 2 cấp.


Long đình có hoa văn kết hợp trang trí nổi để mộc với vẽ lam. Đề tài trang trí nổi không men, gồm các băng cánh sen đầu vuông, hoa sen, hoa cúc hình ô van, hình rồng, hình nghê. Đặc biệt, hình rồng với các bố cục: rồng nổi, đuôi vút lên trên, hai chân trước chống, đầu uốn lên khuôn trong hình chữ nhật. Hình nghê chạm nổi theo cặp đối xứng, hai chân trước quỳ, hai chân sau chống, đầu chúc xuống, đuôi vút lên. Phần chân đế chạm hoa văn hình mây cuốn. Trên 4 mặt của mái vẽ 4 dải mây men lam. Men phủ của long đình màu trắng rạn điểm thêm men màu xanh rêu.


Gốm men lam xám độc sắc Việt Nam

Gốm men lam xám độc sắc Việt Nam

Gốm men lam xám ở Việt Nam xuất hiện khá muộn, khoảng thế kỷ XV, trong khi ở Trung Quốc dòng men này đã có từ thời Nguyên với màu xanh nhạt, lớp men bóng và mỏng. Ở Việt Nam, men lam xám thời kỳ đầu thường dày, màu đậm và đôi khi ngả tím. Loại hình phổ biến là ang bụng nở, chân đèn hai thớt, trang trí hoa văn chìm như cánh sen, hoa dây, bố cục chặt chẽ và mang phong cách nghệ thuật thời đầu Lê.


Đến thời Lê – Mạc, men lam xám được sử dụng nhiều trên chân đèn, lư hương và các đồ thờ. Hoa văn thường là rồng, mây, họa tiết dao mác, nhiều hiện vật còn khắc tên tác giả, tiêu biểu là Đặng Huyền Thông, với trung tâm sản xuất nổi tiếng ở Chu Đậu (Hải Dương). So với giai đoạn trước, màu men nhạt và mỏng hơn, kết hợp với minh văn và họa tiết trang trí giúp nhận biết niên đại.
Sang thế kỷ XVII, gốm men lam xám vẫn tiếp tục tồn tại nhưng không còn phổ biến. Các tiêu bản đặc trưng là ấm hình cầu, vòi cao, chân loe, trên nắp có tượng nghê đắp nổi. Đây được xem là giai đoạn cuối của dòng gốm men lam xám Việt Nam, và sắc độ men lúc này không khác nhiều so với thời Lê – Mạc.

Bình về hai bức “Đồng Bản Hoạ” thời vua Càn Long Trung Hoa liên quan đến sự thật lịch sử vừa đấu giá ở nước ngoài vào tháng 5-2011

Bình về hai bức “Đồng Bản Hoạ” thời vua Càn Long Trung Hoa liên quan đến sự thật lịch sử vừa đấu giá ở nước ngoài vào tháng 5-2011

Hai bức tranh “ĐỒNG BẢN HỌA” thời vua CÀN LONG Trung Hoa liên quan đến lịch sử nước ta vừa được bán đấu giá ở nước ngoài
Đồng bản họa (copper-plate engraving) là những bức tranh được thực hiện bằng kỹ thuật in chuyển họa tiết được khắc trên những tấm bản bằng đồng sang giấy. Kỹ thuật này do người châu Âu phát minh từ thời trung cổ và được du nhập vào Trung Hoa từ thế kỷ XVI, khi các giáo sĩ phương Tây mang những bức tranh in này tặng cho quan lại và quý tộc Trung Hoa.
Do kỹ thuật chế tác đồng bản họa rất phức tạp, từ việc vẽ tranh mẫu trên các phiến đồng, đến chạm khắc họa tiết lên nền kim loại, rồi lăn mực và in ấn thành tranh (thường kéo dài đến 6 tháng cho một bức tranh) nên kỹ thuật này chỉ dùng để in những tác phẩm thật đặc biệt.Do vậy, số tranh đồng bản họa của Thanh triều không nhiều, chủ yếu là tranh do các vua Khang Hi (1662-1723), Càn Long (1735-1796) và Đạo Quang (1821-1850) cho thực hiện để tặng cho các quan đại thần, những người có công với triều đình và các sứ thần lân bang khi họ đi sứ sang Thanh. Trong đó, người cho vẽ tranh đồng bản họa nhiều nhất là vua Càn Long.

Gốm men trắng và men rạn độc sắc Việt Nam

Gốm men trắng và men rạn độc sắc Việt Nam

Gốm men trắng Việt Nam có đặc điểm xương gốm dày, men không trong và sáng như gốm Trung Quốc nhưng tạo cảm giác trầm và sâu.
Thời Lý là giai đoạn phát triển mạnh của gốm men trắng, men có màu trắng như nước gạo nếp, phủ dày và có vết rạn nhỏ; các loại hình phổ biến như âu, liễn, đồ trang trí cánh sen.
Đến cuối thời Trần, men trắng chuyển sang màu trắng ngà, mỏng hơn và ít độ sâu lắng; xuất hiện các đồ như thống, ấm, vòi hình đầu chim phượng, quai đắp nổi.
Sang thời Lê Sơ, gốm men trắng đạt trình độ cao, men trắng mịn và mỏng, nhiều sản phẩm có độ thấu quang như sứ. Các loại hình phổ biến gồm bình, lọ, chum, liễn, âu và tước chân cao.
Từ thế kỷ 18–19, men trắng vẫn tiếp tục tồn tại, đặc biệt ở gốm Bát Tràng, nhưng thường chuyển sang màu xám ngà và xuất hiện thêm dòng men rạn.

Phải học cách ứng xử với “Cổ Vật”

Phải học cách ứng xử với “Cổ Vật”

PV: Xin ông giới thiệu đôi nét về Hội cổ vật Thăng Long - Hà Nội với độc giả?

Ông Đào Phan Long: Hội cổ vật Thăng Long - Hà Nội được thành lập năm 1999. Lúc đó chưa ban hành Luật di sản, chỉ có Nghị quyết của Trung ương động viên xã hội hóa việc bảo vệ di sản văn hóa dân tộc. Sau đó, chúng tôi xin phép Thành phố Hà Nội thành lập Hội chơi đồ cổ công khai vì trước đó phải chơi chui, chơi lủi. Hội cổ vật Thăng Long - Hà Nội là hội cổ vật đầu tiên của cả nước. Sau 10 năm, lần lượt các hội cổ vật địa phương khác ra đời, đó là Hội cổ vật Thiên Trường (Nam Định), Hội cổ vật Thanh Hoa (Thanh Hóa), Hội cổ vật Kinh Bắc (Bắc Ninh), Hội cổ vật Hải Phòng và Hội cổ vật TP Hồ Chí Minh. Với tiêu chí hoạt động của Hội cổ vật Thăng Long - Hà Nội là tập hợp những người ham thích chơi cổ vật, sưu tầm cổ vật, kinh doanh cổ vật tham gia. Hội được nhiều cơ quan ở Trung ương, các hội khoa học lịch sử, các bảo tàng Trung ương và địa phương hết sức ủng hộ. Cuối năm 2010, Hội tiến hành đại hội lần thứ 4 và hiện tại hội có trên 50 hội viên chính thức. Hội còn có những buổi hội thảo, gặp gỡ giao lưu những người chơi cổ vật và đặc biệt còn xuất bản tập chí **Cổ vật tinh hoa**, để giới thiệu cổ vật Việt Nam với cộng đồng trong nước và bạn bè quốc tế. Hơn 10 năm hoạt động, có thể nhận thấy Hội cổ vật Thăng Long - Hà Nội đã phần nào hạn chế được việc bán cổ vật quý ngầm ra nước ngoài. Trong những năm qua, Hội cổ vật Thăng Long - Hà Nội đã tổ chức nhiều cuộc triển lãm tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, một số địa điểm ở thủ đô Hà Nội. Năm 2010, nhân kỷ niệm Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, Hội đã tham gia tổ chức triển lãm cổ vật nhân dịp khánh thành bảo tàng đầu tiên của thành phố Hà Nội tại khu Mỹ Đình. Cũng trong dịp đại lễ 1000 Thăng Long - Hà Nội, Hội đã được thành phố Hà Nội hoan nghênh khi Hội công đức một lư hương bằng đồng, nặng hơn 2 tấn được đặt trang trọng trước tượng đài đức vua Lý Thái Tổ. Lư hương bằng đồng đúc liền khối đáng chú ý ở chỗ, đài hương được lấy ý tưởng từ lư hương sành gốm Thổ Hà thời Lê. Nhưng các cánh sen, hoa văn mờ trên cánh sen, hoa văn hoa thị trên miệng được lấy từ đài thờ gốm hoa nâu, gốm trắng và trống đồng thời Lý.Thân lư hương được lấy từ thân đài sen thờ, chất liệu gốm đời Lý, vốn là hình con tiện hoặc đốt trúc nhưng ở đây được cách điệu thành hình trụ, trên đó có 4 cặp rồng chầu, biểu tượng cho tám đời vua Lý. Lá đề và rồng chầu là nguyên mẫu bằng đá thời Lý, khai quật được ở chùa Phật Tích - Bắc Ninh.

Đôi điều về chơi cổ vật

Đôi điều về chơi cổ vật

Cổ vật khác hẳn với “đồ xưa” và “kỷ vật”, đó là điều cần phân biệt.
Năm 2000, lần đầu tiên Việt Nam ban hành Luật Di Sản Văn hóa, trong đó xác định Cổ vật là các giá trị văn hóa vật thể ghi dấu ấn văn hóa của con người, là sản phẩm của con người tạo ra và có tuổi từ 100 năm trở lên... Ở nước ta định nghĩa cổ vật thì mới có cụ thể gần đây, còn các quốc gia phát triển trên thế giới đã định nghĩa về cổ vật từ lâu.
Với định dạng nêu trên, Cổ vật sẽ có rất nhiều loại hình với chất liệu rất khác nhau. Chất liệu đá, đá quý, kim loại, gốm sứ, gỗ, giấy... Cổ vật là tượng, là đồ trang sức, đồ dùng trong sinh hoạt, là vũ khí, máy móc, phương tiện giao thông, đo đếm... Cổ vật mênh mông là vậy, nhưng tóm lại chúng phải là sản phẩm do con người làm ra.
Đối với mỗi người, việc quyết định lựa chọn loại hình cổ vật để sưu tập nhằm thỏa mãn được ý thích và lại phù hợp với nguồn lực của mình là một việc cần khi vào sân chơi cổ vật. Có lựa chọn và chú tâm như vậy, theo thời gian mới có thể lập nên một sưu tập cổ vật mang dấu ấn của mình và có giá trị cao. Đây là một việc làm không đơn giản đối với một người chơi cổ vật, vì cổ vật quá nhiều chất liệu, loại hình.
Thiết nghĩ để hình thành một sưu tập cổ vật người chơi thường trải qua 03 giai đoạn:
* Giai đoạn đầu, hầu như ai cũng phải “trả học phí”, vì thấy cái gì có hơi hướng cổ vật là đều muốn đến xem để mua.
* Giai đoạn thứ hai: Do đam mê nhưng chưa có đủ kiến thức, chưa có tay nghề vững và kinh nghiệm trong cuộc chơi, dẫn đến thường thích tầm mua các cổ vật có hình thức “hào nhoáng” mà chưa chú ý nhiều đến các tiêu chí đặc trưng cũng như dấu tích văn hóa có giá trị của mỗi cổ vật. Đây là giai đoạn thường bị những người buôn bán cổ vật “chăm sóc, hướng đạo” nhiều nhất.
* Giai đoạn thứ ba:Sau một thời gian đam mê sưu tập cổ vật theo số lượng là quá trình tự lựa chọn rút gọn lại số lượng các cổ vật để lưu giữ, bởi vì lúc này “tay nghề” đã cao lên và quan hệ trong “Làng đồ” cũng từng trải hơn, cho nên mới tự nhìn ra được những cái quý, cái đẹp của từng món cổ vật để tự nhận biết và so sánh về thẩm mỹ, về giá trị.
Một sưu tập cổ vật có giá trị là sưu tập đó có nhiều món cổ vật độc đáo, hiếm và đạt được nhiều tiêu chuẩn cao của cổ vật chứ không phải là số lượng hiện vật nhiều là quý. Vậy các tiêu chí để đánh giá chất lượng của từng cổ vật là gì?
Những ai đã thạo cuộc chơi cổ ngoạn thì đều ngấm truyền khẩu về các tiêu chí để đánh giá cổ vật bằng một câu ngắn gọn các cụ để lại là: “Nhất dáng, nhì da, tam toàn, tứ tuổi”, nhưng có lẽ chưa đủ, vì cần phải thêm hai tiêu chí nữa là “độc” và có “Thân phận” rõ ràng.

 

Gốm men nâu độc sắc Việt Nam

Gốm men nâu độc sắc Việt Nam

Gốm men nâu là một dòng gốm tiêu biểu của Việt Nam, xuất hiện và phát triển mạnh từ thời Lý – Trần. Men nâu có nhiều sắc độ khác nhau như nâu hạt dẻ, nâu mật, nâu cháy, nâu lông thỏ…, trong đó màu nâu thời Lý thường tươi và sáng hơn.

TP.HCM: Ra mắt Bảo tàng Gốm thời dựng nước

TP.HCM: Ra mắt Bảo tàng Gốm thời dựng nước

Bảo tàng Gốm thời dựng nước tọa lạc tại phường An Phú (TP.HCM), trưng bày hơn 400 cổ vật bằng gốm, do nam diễn viên Phạm Gia Chi Bảo sáng lập vừa chính thức ra mắt. Đây là Bảo tàng tư nhân chuyên về gốm cổ lớn nhất Việt Nam.Giám đốc Chi Bảo giới thiệu các cổ vật trong Bảo tàng - Ảnh: Hà Văn

Gốm men ngọc độc sắc Việt Nam

Gốm men ngọc độc sắc Việt Nam

Gốm men ngọc Việt Nam xuất hiện từ khoảng thế kỷ 5–6 tại khu lò Đại Lai (Bắc Ninh) và phát triển vào thế kỷ 7–10 ở Dương Xá và Dâu Keo. Những phát hiện khảo cổ cho thấy nhiều loại gốm từng được cho là nhập từ Trung Quốc thực chất được sản xuất tại Việt Nam. Đến cuối thời Lý – đầu Trần, men ngọc xuất hiện trở lại và có ảnh hưởng từ gốm Nam Tống.
 

Sưu tập gốm men trắng An Biên bảo vật quốc gia

Sưu tập gốm men trắng An Biên bảo vật quốc gia

Niên đại: thời nhà Lý (thế kỷ XI-XIII)
Lưu trữ tại Bảo tàng Hải Phòng, được công nhận là bảo vật quốc gia ngày 25/12/2021.
Giới thiệu: 
Bộ sưu tập gồm 9 hiện vật (ấm, liễn, đĩa…), chế tác từ cao lanh và đất sét trắng cao cấp, dùng trong cung đình và nghi lễ tôn giáo. Các hiện vật có tạo hình tinh xảo, hoa văn khắc nổi như sen, chim, cánh xoắn…, thể hiện kỹ thuật điêu luyện và vẻ đẹp thanh thoát, trong trẻo, huyền ảo của gốm thời.
Sưu tập gốm men trắng An Biên được tạo dáng thanh thoát trang nhã trong hình khối hoa văn được thể hiện thanh tao thuần khiết đường cong mềm mại cầu kỳ tinh mỹ hết sức điêu luyện nước men trắng trong mịn màng đath đến độ lung linh huyền ảo.

Tượng nam thần Bảo Vật Quốc Gia

Tượng nam thần Bảo Vật Quốc Gia

Niên đại: Văn hóa Óc Eo (thế kỷ XI – XII).
Lưu giữ: Bảo tàng tỉnh Bạc Liêu.
Thủ tướng Chính phủ Việt Nam công nhận là bảo vật quốc gia vào ngày 31-12-2020.  
Giới thiệu: Tượng nam thần được phát hiện năm 2002 tại Tháp Vĩnh Hưng, xã Vĩnh Hưng A, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Tượng bằng đồng, cao 19cm, rộng 10cm, trọng lượng 1.800gr, được đúc trong tư thế ngồi quỳ, có đủ đầu, mình, 2 tay và 2 chân. Đầu tượng đội mũ; khuôn mặt tròn đầy; cổ đeo vòng trang sức; vai ngang, rộng, ngực nở. Thân trên để trần, có đúc nổi “dây thiêng” quàng từ vai trái thẳng xuống dưới bụng rồi cong vòng qua bên phải để xiên chéo qua lưng lên trên. Thân dưới mặc sampot dạng quần đùi dài đến đầu gối.
Các bộ phận trên cơ thể nam thần cân đối hài hòa, với kỹ thuật đúc đồng tinh xảo, hoa văn trang trí sắc nét, tạo nên dáng vẻ oai phong, uy nghi của một vị thần.

Thống gốm Hoa Nâu An Sinh Bảo Vật Quốc Gia

Thống gốm Hoa Nâu An Sinh Bảo Vật Quốc Gia

Niên đại: Thời Trần (thế kỷ XIII).
Lưu giữ: Bảo tàng tỉnh Quảng Ninh.
Giới thiệu: Thống gốm hoa nâu An Sinh được làm từ đất sét trắng; tráng men trắng xanh và tô men nâu; nung ở nhiệt độ cao, cồn bền chắc với đường nét hoa văn hoàn mỹ và chất lượng bảo quản tốt.
Thống gốm hoa nâu An Sinh được tạo dáng từ việc dùng các con chạch đất chuốt tay dựa trên bàn xoay đồ gốm. Kết hợp bàn xoay là bàn tay nghệ thuật tài hoa của người nghệ nhân làm gốm trong việc sửa dáng, tạo khắc các băng hoa văn trải kín thân ngoài thống. Thống có chiều cao tổng thể 71,5 – 73cm; đường kính miệng 107 – 108cm; đường kính thân rộng nhất 100cm; đường kính đáy 68 – 69cm; nặng 126kg. Đây là chiếc thống có kích thước lớn nhất trong hệ thống đồ gốm gia dụng và đồ gốm nghi lễ của nước ta hiện biết, được tạo khắc hoa văn, tráng men và nung đốt hoàn toàn không có tì vết, tạo nên những đặc trưng kỹ thuật hiếm có của chiếc thống này.

 

Tượng sư tử đá chùa Hương Lãng Bảo Vật Quốc Gia

Tượng sư tử đá chùa Hương Lãng Bảo Vật Quốc Gia

Niên đại: Thời Lý ( Cuối thế kỷ XI - đầu thế kỷ XIII )
Lưu giữ: Chùa Hương Lãng, xã Minh Hải, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
Giới Thiệu: 
Được chế tác từ đá xanh và sa thạch, bệ đá hoa sen chùa Hương Lãng được kết cấu làm 3 tầng: tầng đế, tầng thân và tầng trên cùng (đài sen), liên kết chặt chẽ với nhau tạo thành một bệ đá hoa sen hoàn chỉnh dài 280cm, rộng 350cm, cao 175cm.
Tầng chân đế được làm theo kiểu hình hộp chữ nhật tạo thành 3 cấp thu dần vào trong. Tầng thân tạc hình sư tử (ông Sấm), được thể hiện trong tư thế phủ phục trên bệ đá. Mặt sư tử được diễn tả bằng những nét chạm khắc rất tinh tế, toàn thân phủ một thảm hoa văn dày đặc hình hoa cúc. Tầng trên cùng (đài sen) được tạo tác bởi một phiến đá xanh tạo thành mặt phẳng hình chữ nhật. Toàn bộ phần đài sen được đặt chính giữa trên lưng sư tử. Có thể đoán định xưa kia, phía trên bệ là một pho tượng Phật bằng đá rất lớn.

Đài thờ Mỹ Sơn A10 Bảo vật quốc gia

Đài thờ Mỹ Sơn A10 Bảo vật quốc gia

Niên đại: Cuối thế kỷ IX, đầu thế kỷ X
Lưu giữ: Ban quản lý di sản văn hoá Mỹ Sơn, xã Duy Phú, huyện Duy Xuyến, tỉnh Quảng Nam.

- Giới Thiệu: Đài thờ Mỹ Sơn A10 thuộc Khu Di sản thế giới Mỹ Sơn là bộ đài thờ còn khá nguyên vẹn, được ghép từ 17 khối sa thạch, xếp thành 5 lớp chồng lên nhau, trên đài thờ là bộ Linga và Yoni liền khối. Đài thờ cao 226cm, dài 269cm, rộng 258cm; Yoni dài 225cm, rộng 169cm, dày 31cm; Linga có đường kính 55cm, cao 57cm. Bốn mặt của đài thờ có bố cục chung giống nhau gồm phần đế, thân và tượng thờ Linga - Yoni. Vòi Yoni quay về hướng bắc, phần thân được trang trí giật cấp, thu vào ở giữa, trên dưới tương đối đối xứng.
Đài thờ Mỹ Sơn A10 là hiện vật mang tính sáng tạo và biểu tượng cao trong hình dạng và kỹ thuật, là đài thờ tiêu biểu và duy nhất cho một giai đoạn thờ Shiva giáo của vương quốc Chămpa còn lại cho đến nay.
 

Chiêm ngưỡng bảo vật quốc gia ngàn năm tuổi đầu phượng thời Lý (thế kỷ XI-XII) tại Hoàng Thành Thăng Long

Chiêm ngưỡng bảo vật quốc gia ngàn năm tuổi đầu phượng thời Lý (thế kỷ XI-XII) tại Hoàng Thành Thăng Long

Giới thiệu sưu tập bảo vật
• Sưu tập Đầu phượng thời Lý (thế kỷ XI-XII) được phát hiện tại Khu di tích khảo cổ 18 Hoàng Diệu thuộc trung tâm Hoàng thành Thăng Long.
• Sưu tập này gồm 5 hiện vật làm từ đất nung, đã được công nhận là bảo vật quốc gia.
• Các hiện vật thể hiện kỹ thuật tạo tác tinh xảo với hoa văn và hình khối đa dạng được chế tác bằng tay.

Thống gốm hoa nâu bảo vật quốc gia

Thống gốm hoa nâu bảo vật quốc gia

Niên đại: Thời Trần (thế kỷ XIII-XIV).

Lưu giữ: Bảo tàng lịch sử quốc gia, thành phố Hà Nội.

Được công nhận là Bảo vật quốc gia ngày 22/12/2016.

1 2 3 4 5 6 7 8 9

Địa Chỉ Cửa Hàng Chúng Tôi

Hotline: 098.13.02468

Email: contact@laocovat.com

Địa chỉ: 332 Âu Cơ - Nhật Tân - Tây Hồ - Hà Nội