Tin Tức
Lịch Sử Đồ Đồng Việt Nam Và Hành Trình Phát Triển Qua Các Thời Kỳ
Lịch sử đồ đồng Việt Nam là một phần quan trọng trong tiến trình hình thành và phát triển của dân tộc. Từ thời kỳ Văn Lang – Âu Lạc với những chiếc trống đồng Đông Sơn nổi tiếng, nghề đúc đồng đã trở thành biểu tượng cho sự sáng tạo, tài hoa và bản sắc văn hóa Việt. Trải qua hàng nghìn năm, đồ đồng không chỉ mang giá trị sử dụng mà còn chứa đựng những dấu ấn lịch sử, phản ánh đời sống vật chất và tinh thần của người Việt qua từng thời đại.
Thời đại đồ đồng - Khi kỹ thuật luyện kim làm thay đổi thế giới
Thời đại đồ đồng là một trong những bước ngoặt quan trọng nhất trong lịch sử phát triển của nhân loại. Đây là giai đoạn con người bắt đầu khám phá và làm chủ kỹ thuật luyện kim, biết cách nấu chảy quặng và chế tác các công cụ bằng kim loại. Những thành tựu này đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội, mở ra một thời kỳ văn minh và tiến bộ hơn.
Hoa văn thủy ba: Khi sóng nước trở thành biểu tượng
Hoa văn thủy ba truyền thống nổi tiếng với những đường nét uyển chuyển, nhịp nhàng, đã bám rễ và ăn sâu vào giá trị văn hóa – nghệ thuật Việt.
Gốm thời Lê
Gốm thời Lê là một giai đoạn nổi bật trong lịch sử gốm cổ Việt Nam. Nếu gốm thời Lý thường gắn với vẻ thanh nhã, mềm mại và tinh thần Phật giáo, gốm thời Trần thể hiện xu hướng khỏe khoắn, phóng khoáng, thì gốm thời Lê lại đánh dấu bước phát triển mạnh về kỹ thuật hoa lam, đồ ngự dụng, sản xuất cung đình và giao thương quốc tế.
Qua các phát hiện tại Hoàng thành Thăng Long, gốm thời Lê không chỉ là đồ dùng sinh hoạt. Đó còn là tư liệu khảo cổ quan trọng giúp nhận diện đời sống Hoàng cung, trình độ kỹ thuật của các lò gốm, sự phân tầng trong sử dụng đồ gốm và mối liên hệ giữa Thăng Long với các trung tâm sản xuất gốm lớn như Hải Dương, Bát Tràng.
Một cõi riêng văn hóa cau trầu
Tả về bình vôi thật đơn giản gồm bầu đựng, có quai hoặc không quai, trên bầu khoét lỗ nhỏ đựng vôi. Tạo hình bình vôi trong hệ “trầu cụ” (dụng cụ ăn trầu) chỉ có thế, nhưng soi vào chi tiết, có đến vô số kiểu dáng, kích cỡ, sắc màu, lối trang trí, niên đại, xuất xứ… khác nhau. Nếu lấy một hiện vật gốm Việt cùng công năng nhưng đa dạng hình tượng, gánh trên đó là văn hóa, tính vùng miền, sự sáng tạo… bình vôi là lựa chọn tiêu biểu.
Di sản tư liệu ở cố đô Huế
Huế được biết đến là thành phố với nhiều di sản thế giới được UNESCO ghi danh như: Quần thể di tích cố đô Huế được công nhận là Di sản Văn hóa thế giới năm 1993, Nhã nhạc cung đình Huế là Di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu nhân loại năm 2003 và đến nay, ít người biết rằng Huế còn sở hữu một loại hình di sản hết sức độc đáo, đó là Di sản tư liệu được UNESCO ghi danh vào tháng 5 năm 2016 cho hệ thống Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế. Như vậy, ngay tại di sản thế giới Huế lại có thêm một loại hình di sản tư liệu độc đáo, hiếm có và Huế là thành phố duy nhất của Việt Nam và Đông Nam Á sở hữu đồng thời cả 3 loại hình di sản của UNESCO là Di sản vật thể, Di sản phi vật thể và Di sản tư liệu.
Tạo sáng Đông Sơn: Đèn Đông Sơn - bình dân, quý tộc và thần linh
Đèn đồng Đông Sơn thuộc vào loại hình hiện vật đa dạng và được đầu tư nghệ thuật vào loại nhất trong bảng hiện vật Đông Sơn. Điều đó phản ánh giá trị quan trọng của hiện vật tạo sáng trong đời sống xã hội Đông Sơn và hé mở bức tranh tư duy khá phức tạp trong cư dân Đông Sơn. Bức tranh đó cho ta thấy tính đa tộc, đa tầng và đa văn hóa đương thời.
Gốm tiền sử Việt Nam
Nằm ở khu vực Đông Nam Á, lại giáp biên với Trung Quốc - một đất nước được xem là cội nguồn, xứ sở của nghề gốm sứ với bề dày lịch sử hơn 10.000 năm, Việt Nam cũng là một trong những quốc gia có nghề làm gốm xuất hiện khá sớm. Bằng chứng khảo cổ học đã xác định, đồ gốm cũng xuất hiện ở Việt Nam từ khoảng một vạn năm trước, trong giai đoạn văn hóa Hòa Bình (giai đoạn muộn), Bắc Sơn.
Cái ăn của người Đông Sơn : Rượu chè Đông Sơn
“Theo dấu men rượu trong thạp đồng Đông Sơn: Giải mã một biểu tượng văn hóa Việt cổ”.
Gốm thời Trần
Trong tiến trình mỹ thuật Việt Nam, gốm Trần không tách rời gốm Lý. Đây là giai đoạn kế thừa trực tiếp những thành tựu của thời Lý về men, dáng gốm, kỹ thuật tạo hoa văn và đề tài trang trí. Tuy nhiên, sự kế thừa ấy không phải là lặp lại nguyên vẹn. Dưới thời Trần, gốm phát triển theo hướng vững chãi, thực dụng, giàu sức sống và có xu hướng mở rộng hơn vào đời sống xã hội. Các phát hiện tại Hoàng thành Thăng Long cho thấy gốm thời Trần được tìm thấy khá nhiều trong các hố khai quật, thường đi cùng đồ gốm trang trí kiến trúc cùng thời; các dòng gốm gồm men trắng, men ngọc, men xanh lục, men nâu, hoa nâu và hoa lam.
Văn hóa Đông Sơn - Chiến tranh và Hòa bình : Vỏ bao những cây kiếm Đông Sơn
Cho đến nay chưa có bao kiếm Đông Sơn nào còn nguyên vẹn do phần lớn chúng được làm từ chất liệu có nguồn gốc hữu cơ như gỗ, xương, ngà, da... Tuy nhiên, nếu khai quật thận trọng vẫn dễ dàng nhận ra hầu hết các thanh kiếm Đông Sơn đều có một phần ốp bao bằng gỗ hay gỗ sơn then hoặc bọc da thú... đã bị mủn nát theo thời gian, chỉ còn hằn lại vết in trên tầng gỉ sắt của phần lưỡi.
"Tạo sáng" Đông Sơn: Đèn Đông Sơn - bình dân, quý tộc và thần linh
Trước khi điện trở nên phổ biến, ánh sáng nhân tạo là một thứ tài sản quý giá trong đời sống người Việt. Chỉ vài chục năm trước, những chiếc đèn dầu hỏa hay đèn măng xông vẫn còn là vật dụng không phải gia đình nào cũng dễ dàng sở hữu. Đặc biệt ở vùng nông thôn và miền núi, ánh sáng từ đèn dầu leo lét đã gắn bó với nhiều thế hệ, trong khi những chiếc đèn măng xông sáng trắng thường chỉ xuất hiện trong các dịp lễ nghi, cưới hỏi hay hội họp quan trọng. Phần lớn các loại đèn cổ còn lưu giữ đến nay đều là sản phẩm du nhập từ phương Tây, trong khi đèn dầu truyền thống của người Việt có lịch sử lâu đời hơn rất nhiều.
Vẻ đẹp của nàng tiên trong kiến trúc Việt
Trong hệ thống di sản Việt Nam, đình làng là một loại hình kiến trúc đặc trưng của người Việt và là một loại hình kiến trúc đặc biệt so với nền kiến trúc thế giới. Đình còn tồn tại đến ngày nay có thể nói có tuổi đời khá trẻ so với các loại hình kiến trúc khác của người Việt, ngôi đình sớm nhất hiện còn có niên đại vào thế kỷ 16. Nghệ thuật chạm khắc gỗ trong đình làng là một kho báu vô cùng giá trị của ông cha ta để lại cho nền văn hóa và mỹ thuật Việt Nam. Hình tượng Tiên nữ là đề tài khá phổ biến và đặc sắc nhất của nghệ thuật điêu khắc đình làng.
Gốm thời Lý - Vẻ đẹp thanh nhã của mỹ thuật Đại Việt
Gốm thời Lý là một trong những dấu mốc quan trọng của lịch sử gốm Việt Nam. Sau khi nhà Lý dời đô ra Thăng Long năm 1010, kinh đô mới trở thành trung tâm chính trị, tôn giáo và văn hóa lớn của Đại Việt. Trong bối cảnh ấy, nghề gốm phát triển mạnh, không chỉ phục vụ đời sống thường ngày mà còn đáp ứng nhu cầu của cung đình, kiến trúc Phật giáo, nghi lễ và sinh hoạt tôn giáo.
Điểm đáng chú ý của gốm thời Lý là vẻ đẹp thanh nhã, tinh tế, mềm mại. Khác với gốm thời Trần có xu hướng khỏe khoắn và phóng khoáng hơn, hay gốm thời Lê nổi bật với hoa lam rõ nét, gốm Lý thường gây ấn tượng bằng sắc men dịu, dáng gốm cân đối và hoa văn mang tinh thần Phật giáo. Những dòng men trắng, men trắng ngà, men ngọc, men xanh lục cùng các mô típ hoa sen, hoa cúc, lá đề, rồng, mây, sóng nước đã tạo nên một phong cách riêng của mỹ thuật Đại Việt thế kỷ XI – XIII.
Gốm Lý – Trần – Lê: Hành trình mỹ thuật Hoàng cung Việt cổ
Gốm cổ Việt Nam thời Lý – Trần – Lê là một mảng tư liệu quan trọng để nhận diện trình độ kỹ thuật, thẩm mỹ và đời sống văn hóa của người Việt trong thời kỳ quân chủ độc lập. Nếu văn hóa Đông Sơn cho thấy đỉnh cao của kỹ thuật luyện kim đồng thau, thì đến thời Lý – Trần – Lê, gốm sứ lại trở thành một trong những chất liệu nổi bật phản ánh đời sống cung đình, tín ngưỡng, sinh hoạt thường ngày và quan hệ giao thương của Đại Việt.
Gốm Việt Nam dưới triều Lý – Trần, thế kỷ XI–XIV
Trong lịch sử văn hóa dân tộc, thời Lý – Trần (thế kỷ XI–XIV) được xem là một trong những giai đoạn huy hoàng nhất của Đại Việt. Đây không chỉ là thời kỳ đất nước ổn định, kinh tế phát triển và văn hóa đạt nhiều thành tựu rực rỡ, mà còn là thời kỳ nghề thủ công truyền thống phát triển mạnh mẽ. Trong số đó, nghề gốm nổi lên như một ngành thủ công tiêu biểu, phản ánh trình độ kỹ thuật, tư duy thẩm mỹ và bản sắc văn hóa của người Việt thời trung đại.
Những hiện vật còn lưu giữ đến ngày nay cho thấy gốm thời Lý – Trần đã đạt đến trình độ hoàn thiện cao cả về kỹ thuật chế tác lẫn nghệ thuật tạo hình. Nhiều nhà nghiên cứu đánh giá đây là giai đoạn đánh dấu sự hình thành phong cách gốm Việt Nam độc lập, khác biệt với các nền gốm đương thời trong khu vực.
Gốm Việt Nam thời kỳ 10 thế kỷ đầu công nguyên.
Ngoài đồ đất nung mang nhiều dấu ấn Đông Sơn còn có các đồ gốm phủ men. Những đồ gốm hiện còn trong các bảo tàng và sưu tập tư nhân thuộc giai đoạn này thường có nguồn gốc tư các ngồi mộ gạch xếp, mộ quan tài bằng thân cây khoét rỗng hay mộ cũi. Niên đại các mộ khoảng thời Đông Hán, tk 1-3, Lục Triều - Đường, tk 6-7 hoặc cuối Đường, tk 9-10.
Trống đồng Cảnh Thịnh – Tiếng vọng ngàn năm
Thời Tây Sơn (1778 – 1802) gắn liền với tên tuổi vị anh hùng dân tộc Quang Trung – Nguyễn Huệ. Sau chiến thắng Kỷ Dậu 1789 đại phá quân Thanh, hoàng đế Quang Trung đã tập trung phục hồi đất nước, ổn định xã hội và ra sức phát triển văn hóa dân tộc. Bởi vậy, tuy chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn nhưng giai đoạn này đã để lại cho hậu thế những di sản văn hóa đặc sắc, những kiệt tác nghệ thuật độc đáo mang dấu ấn thời đại rất rõ nét. Tiêu biểu trong đó là chiếc trống đồng Cảnh Thịnh, hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam.
Tạo sáng thời Đông Sơn: Mặt trăng - đèn trời và những cây đèn Đông Sơn huyền diệu
Trước khi loài người có thể tạo ra và duy trì lửa, ánh sáng ban ngày chỉ đến từ Mặt trời và đêm tối nhờ ánh trăng biến động trong chu kỳ "lưỡi liềm" đến tròn rằm hàng tháng. Nếu Mặt trời là hiện tượng như đương nhiên, bất diệt với con người thì Mặt trăng mang nhiều yếu tố sống động, gần gụi hơn.
Trà cụ: Muôn kiểu chơi tìm về tao nhã
Vua chơi lan – quan chơi trà. Câu nói dân gian xưa định vị rõ thú chơi trà thường là đẳng cấp quyền quý, quan lại mới đủ điều kiện nhập cuộc. Trà ở đây, không chỉ là các loại trà pha để thưởng thức, mà còn là dụng cụ pha trà, định thành môn chơi công phu, dễ gây nghiện nặng cho những người nhập cuộc.
Văn hóa Đông Sơn - Chiến tranh và Hòa bình: Giáo, lao Đông Sơn có ngạnh
Trong bộ vũ khí đâm, lao Đông Sơn ngoài sự phổ biến những ngọn giáo dạng búp đa các kiểu, còn xuất hiện những mũi nhọn có ngạnh như dạng một mũi tên kích cỡ lớn. Đa phần các nhà nghiên cứu hay sưu tầm gọi chúng là các mũi lao dùng trong đánh bắt cá.
Tuy nhiên, một số chiếc kích thước khá lớn, lại được tô điểm trang trí cầu kỳ, gợi ý chức năng một loại hình vũ khí đâm xuyên có thể dùng trong chiến trận.
Đồ đồng thau Trung Quốc
Đồng thau và thế giới lễ khí quyền uy của Trung Hoa cổ đại
Không chỉ là một bước tiến vượt bậc trong kỹ thuật luyện kim, đồng thau còn trở thành vật liệu gắn liền với quyền lực, tín ngưỡng và trật tự xã hội của các nền văn minh cổ đại phương Đông. Từ thời Thương – Chu, những hiện vật bằng đồng thau không đơn thuần là công cụ sinh hoạt hay vũ khí chiến đấu, mà còn là biểu tượng của địa vị, lễ nghi và uy quyền chính trị. Hệ thống lễ khí đồ sộ gồm đỉnh, quỹ, chuông, tước, tôn cùng vô số vật dụng nghi lễ khác đã phản ánh rõ nét chế độ tôn ti nghiêm ngặt và trình độ nghệ thuật đúc đồng đạt đến đỉnh cao của thời đại.
Thần hộ mệnh trên lưỡi giáo Đông Sơn
Chúng ta đã có một chặng dài khảo sát về vũ khí thời Đông Sơn trong chuỗi bài liên quan đến Chiến tranh và Hòa bình thời kỳ này, từ những loại rìu chiến đến các lưỡi qua và dặm dài truy tìm dao găm, gươm kiếm… Tôi dự kiến sẽ tạm kết thúc phần viết về vũ khí Đông Sơn sau loạt bài từ hôm nay về giáo, lao và cuối cùng về cung nỏ, các tấm khiên, mộc.
Rồng trên cổ vật qua sưu tập hiện vật Bảo tàng Lịch sử quốc gia
Rồng là hình tượng có vị trí đặc biệt trong văn hóa, tín ngưỡng của nhiều dân tộc trên thế giới, trong đó có dân tộc Việt Nam. Ở Việt Nam, hình tượng rồng được xuất hiện rất sớm vào buổi đầu dựng nước Văn Lang - Âu Lạc và trở thành biểu tượng linh thiêng gắn với Tổ Tiên, cội nguồn dân tộc. Nằm trong khu vực là cái nôi của nền văn minh lúa nước, rồng Việt Nam còn giữ vai trò là một Phúc thần.
Địa Chỉ Cửa Hàng Chúng Tôi
Hotline: 098.13.02468
Email: contact@laocovat.com
Địa chỉ: 332 Âu Cơ - Nhật Tân - Tây Hồ - Hà Nội