Tin Tức
Văn hóa Đông Sơn - Chiến tranh và Hòa bình: Những dòng dao găm Đông Sơn hiếm thấy
Ngoài những loại dao găm Đông Sơn thường thấy thuộc hai dòng chính Tây Âu, Lạc Việt, chúng ta còn bắt gặp một số dao găm ít thấy hơn trong khung cảnh di vật chung của cư dân thời Đông Sơn. Trong buổi "Rì rầm trong tiếng đất" hôm nay, tôi sẽ nhắc đến các loại dao găm này.
Gốm Lý - Trần Việt Nam
Sau khi giành được độc lập tự chủ vào thế kỷ X, Đại Cồ Việt bước vào thời kỳ phục hưng mạnh mẽ về kinh tế và văn hóa. Trong bối cảnh đó, nghề gốm thời Lý – Trần phát triển rực rỡ, trở thành một trong những thành tựu tiêu biểu của văn hóa Đại Việt. Các trung tâm sản xuất gốm xuất hiện ở nhiều địa phương như Thăng Long, Hải Dương, Nam Định, Thanh Hóa và Ninh Bình, cho thấy sự hình thành của nền sản xuất gốm chuyên nghiệp với quy mô lớn.
Tiền cổ Việt Nam: Di sản cô đọng trong vòng tròn kim khí
Ẩn trong những trầm tích văn hóa Việt Nam tồn tại một loại hình di sản đặc biệt cô đọng, gói ghém tinh hoa của cả một triều đại trong lòng một đồng tiền kim loại với đường kính chỉ vài centimet.
"Tạo sáng" Đông Sơn : Khi thần đèn "ngự" trên đôi rồng
Hôm nay tôi muốn cùng các bạn quan sát một hiện tượng ngược lại: Những con rồng nâng bổng thần đèn, biến chính thần đèn thành người nâng đỡ đĩa đèn với ánh sáng linh thiêng đó. Sự thay đổi đó có ý nghĩa gì chăng hay chỉ là cảm hứng tùy tiện của người thợ đúc đồng?
Tự hào gốm Việt: Thủy tộc trên tửu cụ gốm Việt
Gốm Việt cổ, khi đến thời Lê Mạc (1527 - 1592) và Lê Trung hưng (1533 - 1788), bắt đầu xuất hiện những tạo dáng khác lạ, nổi bật là các ấm rượu hình tôm cá
"Tạo sáng" Đông Sơn: Cận cảnh một cây đèn Đông Sơn quý tộc và thần linh
Mỗi chiếc đèn Đông Sơn đều mang dấu ấn cá nhân, của thợ cả tạo riêng cho chủ nhân cây đèn.
Văn hóa Đông Sơn - Chiến tranh và Hòa bình: Những vỏ bao dao găm Đông Sơn
Bước vào thời đại kim khí, sự sắc nhọn của dụng cụ, vũ khí chế bằng kim loại có thể dễ dàng gây thương tích cho người sử dụng, đặt ra nhu cầu tự nhiên của những thiết bị bao, che đầu nhọn, lưỡi sắc.Chúng dần phát triển trở thành một vật phụ quan trọng, được đầu tư chế tác và trang trí có khi hơn cả những lưỡi sắc, đầu nhọn kim loại cần được bảo vệ. Buổi "Rì rầm" hôm nay mong sẽ được dẫn các bạn vào thế giới bao dao, bao kiếm Đông Sơn với rất nhiều loại hình đa dạng.
Thế giới chim và hoa
Những sắc màu đầy nhịp điệu và sức sống của các loài chim và hoa, luôn gợi lên hình ảnh của hương sắc và vẻ đẹp lộng lẫy. Đó là lý do tại sao, chim và hoa đã trở thành đề tài trang trí quan trọng xuyên suốt mọi thời đại trong nghệ thuật cổ Việt Nam, trên mọi chất liệu như gỗ, giấy, vải, vàng, bạc, đồng, ngọc, ngà, đá, gốm… và mọi loại hình như đồ dùng sinh hoạt, đồ thờ cúng, nghi lễ, nhạc khí, vũ khí, văn phòng tứ bảo, trang sức, trang phục, vật liệu, trang trí kiến trúc, tranh thêu, tranh vẽ…
Tìm hiểu về Văn hóa Đồng Đậu
Trong tiến trình phát triển của văn minh Việt cổ, văn hóa Đồng Đậu giữ một vị trí đặc biệt quan trọng. Đây là nền văn hóa kế tiếp văn hóa Phùng Nguyên và là một mắt xích quan trọng trong hệ thống văn hóa Tiền Đông Sơn ở miền Bắc Việt Nam.
Nếu văn hóa Phùng Nguyên đánh dấu giai đoạn hình thành của thời đại đồng thau thì văn hóa Đồng Đậu chính là thời kỳ nghề luyện kim đồng phát triển mạnh mẽ, mở đường cho sự xuất hiện của văn hóa Gò Mun và đỉnh cao Đông Sơn sau này. Những thành tựu về kỹ thuật đúc đồng, chế tác đồ gốm và tổ chức đời sống sản xuất đã phản ánh một xã hội đang từng bước chuyển mình sang trình độ phát triển cao hơn.
Tìm Hiểu Về Văn Hóa Phùng Nguyên
Văn hóa Phùng Nguyên được xem là nền văn hóa nông nghiệp lúa nước sớm nhất của người Việt ở miền Bắc Việt Nam. Đây là một nền văn hóa phát triển cao, đặc biệt nổi bật ở kỹ thuật chế tác đá và ngọc, phản ánh sự tiếp nối những truyền thống văn hóa lâu đời từ khu vực lưu vực sông Dương Tử.
Nhiều nghiên cứu khảo cổ, nhân chủng học và di truyền học cho thấy văn hóa Phùng Nguyên không hình thành hoàn toàn từ sự phát triển tại chỗ, mà có mối liên hệ sâu sắc với các nền văn hóa phát triển ở vùng Dương Tử. Chính vì vậy, việc tìm hiểu văn hóa Phùng Nguyên không chỉ giúp nhận diện nguồn gốc của người Việt cổ mà còn góp phần lý giải quá trình hình thành những nền văn hóa kế tiếp như Đồng Đậu, Gò Mun và Đông Sơn.
Lịch Sử Đồ Đồng Việt Nam Và Hành Trình Phát Triển Qua Các Thời Kỳ
Lịch sử đồ đồng Việt Nam là một phần quan trọng trong tiến trình hình thành và phát triển của dân tộc. Từ thời kỳ Văn Lang – Âu Lạc với những chiếc trống đồng Đông Sơn nổi tiếng, nghề đúc đồng đã trở thành biểu tượng cho sự sáng tạo, tài hoa và bản sắc văn hóa Việt. Trải qua hàng nghìn năm, đồ đồng không chỉ mang giá trị sử dụng mà còn chứa đựng những dấu ấn lịch sử, phản ánh đời sống vật chất và tinh thần của người Việt qua từng thời đại.
Thời đại đồ đồng - Khi kỹ thuật luyện kim làm thay đổi thế giới
Thời đại đồ đồng là một trong những bước ngoặt quan trọng nhất trong lịch sử phát triển của nhân loại. Đây là giai đoạn con người bắt đầu khám phá và làm chủ kỹ thuật luyện kim, biết cách nấu chảy quặng và chế tác các công cụ bằng kim loại. Những thành tựu này đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội, mở ra một thời kỳ văn minh và tiến bộ hơn.
Hoa văn thủy ba: Khi sóng nước trở thành biểu tượng
Hoa văn thủy ba truyền thống nổi tiếng với những đường nét uyển chuyển, nhịp nhàng, đã bám rễ và ăn sâu vào giá trị văn hóa – nghệ thuật Việt.
Gốm thời Lê
Gốm thời Lê là một giai đoạn nổi bật trong lịch sử gốm cổ Việt Nam. Nếu gốm thời Lý thường gắn với vẻ thanh nhã, mềm mại và tinh thần Phật giáo, gốm thời Trần thể hiện xu hướng khỏe khoắn, phóng khoáng, thì gốm thời Lê lại đánh dấu bước phát triển mạnh về kỹ thuật hoa lam, đồ ngự dụng, sản xuất cung đình và giao thương quốc tế.
Qua các phát hiện tại Hoàng thành Thăng Long, gốm thời Lê không chỉ là đồ dùng sinh hoạt. Đó còn là tư liệu khảo cổ quan trọng giúp nhận diện đời sống Hoàng cung, trình độ kỹ thuật của các lò gốm, sự phân tầng trong sử dụng đồ gốm và mối liên hệ giữa Thăng Long với các trung tâm sản xuất gốm lớn như Hải Dương, Bát Tràng.
Một cõi riêng văn hóa cau trầu
Tả về bình vôi thật đơn giản gồm bầu đựng, có quai hoặc không quai, trên bầu khoét lỗ nhỏ đựng vôi. Tạo hình bình vôi trong hệ “trầu cụ” (dụng cụ ăn trầu) chỉ có thế, nhưng soi vào chi tiết, có đến vô số kiểu dáng, kích cỡ, sắc màu, lối trang trí, niên đại, xuất xứ… khác nhau. Nếu lấy một hiện vật gốm Việt cùng công năng nhưng đa dạng hình tượng, gánh trên đó là văn hóa, tính vùng miền, sự sáng tạo… bình vôi là lựa chọn tiêu biểu.
Di sản tư liệu ở cố đô Huế
Huế được biết đến là thành phố với nhiều di sản thế giới được UNESCO ghi danh như: Quần thể di tích cố đô Huế được công nhận là Di sản Văn hóa thế giới năm 1993, Nhã nhạc cung đình Huế là Di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu nhân loại năm 2003 và đến nay, ít người biết rằng Huế còn sở hữu một loại hình di sản hết sức độc đáo, đó là Di sản tư liệu được UNESCO ghi danh vào tháng 5 năm 2016 cho hệ thống Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế. Như vậy, ngay tại di sản thế giới Huế lại có thêm một loại hình di sản tư liệu độc đáo, hiếm có và Huế là thành phố duy nhất của Việt Nam và Đông Nam Á sở hữu đồng thời cả 3 loại hình di sản của UNESCO là Di sản vật thể, Di sản phi vật thể và Di sản tư liệu.
Tạo sáng Đông Sơn: Đèn Đông Sơn - bình dân, quý tộc và thần linh
Đèn đồng Đông Sơn thuộc vào loại hình hiện vật đa dạng và được đầu tư nghệ thuật vào loại nhất trong bảng hiện vật Đông Sơn. Điều đó phản ánh giá trị quan trọng của hiện vật tạo sáng trong đời sống xã hội Đông Sơn và hé mở bức tranh tư duy khá phức tạp trong cư dân Đông Sơn. Bức tranh đó cho ta thấy tính đa tộc, đa tầng và đa văn hóa đương thời.
Gốm tiền sử Việt Nam
Nằm ở khu vực Đông Nam Á, lại giáp biên với Trung Quốc - một đất nước được xem là cội nguồn, xứ sở của nghề gốm sứ với bề dày lịch sử hơn 10.000 năm, Việt Nam cũng là một trong những quốc gia có nghề làm gốm xuất hiện khá sớm. Bằng chứng khảo cổ học đã xác định, đồ gốm cũng xuất hiện ở Việt Nam từ khoảng một vạn năm trước, trong giai đoạn văn hóa Hòa Bình (giai đoạn muộn), Bắc Sơn.
Cái ăn của người Đông Sơn : Rượu chè Đông Sơn
“Theo dấu men rượu trong thạp đồng Đông Sơn: Giải mã một biểu tượng văn hóa Việt cổ”.
Gốm thời Trần
Trong tiến trình mỹ thuật Việt Nam, gốm Trần không tách rời gốm Lý. Đây là giai đoạn kế thừa trực tiếp những thành tựu của thời Lý về men, dáng gốm, kỹ thuật tạo hoa văn và đề tài trang trí. Tuy nhiên, sự kế thừa ấy không phải là lặp lại nguyên vẹn. Dưới thời Trần, gốm phát triển theo hướng vững chãi, thực dụng, giàu sức sống và có xu hướng mở rộng hơn vào đời sống xã hội. Các phát hiện tại Hoàng thành Thăng Long cho thấy gốm thời Trần được tìm thấy khá nhiều trong các hố khai quật, thường đi cùng đồ gốm trang trí kiến trúc cùng thời; các dòng gốm gồm men trắng, men ngọc, men xanh lục, men nâu, hoa nâu và hoa lam.
Văn hóa Đông Sơn - Chiến tranh và Hòa bình : Vỏ bao những cây kiếm Đông Sơn
Cho đến nay chưa có bao kiếm Đông Sơn nào còn nguyên vẹn do phần lớn chúng được làm từ chất liệu có nguồn gốc hữu cơ như gỗ, xương, ngà, da... Tuy nhiên, nếu khai quật thận trọng vẫn dễ dàng nhận ra hầu hết các thanh kiếm Đông Sơn đều có một phần ốp bao bằng gỗ hay gỗ sơn then hoặc bọc da thú... đã bị mủn nát theo thời gian, chỉ còn hằn lại vết in trên tầng gỉ sắt của phần lưỡi.
"Tạo sáng" Đông Sơn: Đèn Đông Sơn - bình dân, quý tộc và thần linh
Trước khi điện trở nên phổ biến, ánh sáng nhân tạo là một thứ tài sản quý giá trong đời sống người Việt. Chỉ vài chục năm trước, những chiếc đèn dầu hỏa hay đèn măng xông vẫn còn là vật dụng không phải gia đình nào cũng dễ dàng sở hữu. Đặc biệt ở vùng nông thôn và miền núi, ánh sáng từ đèn dầu leo lét đã gắn bó với nhiều thế hệ, trong khi những chiếc đèn măng xông sáng trắng thường chỉ xuất hiện trong các dịp lễ nghi, cưới hỏi hay hội họp quan trọng. Phần lớn các loại đèn cổ còn lưu giữ đến nay đều là sản phẩm du nhập từ phương Tây, trong khi đèn dầu truyền thống của người Việt có lịch sử lâu đời hơn rất nhiều.
Vẻ đẹp của nàng tiên trong kiến trúc Việt
Trong hệ thống di sản Việt Nam, đình làng là một loại hình kiến trúc đặc trưng của người Việt và là một loại hình kiến trúc đặc biệt so với nền kiến trúc thế giới. Đình còn tồn tại đến ngày nay có thể nói có tuổi đời khá trẻ so với các loại hình kiến trúc khác của người Việt, ngôi đình sớm nhất hiện còn có niên đại vào thế kỷ 16. Nghệ thuật chạm khắc gỗ trong đình làng là một kho báu vô cùng giá trị của ông cha ta để lại cho nền văn hóa và mỹ thuật Việt Nam. Hình tượng Tiên nữ là đề tài khá phổ biến và đặc sắc nhất của nghệ thuật điêu khắc đình làng.
Gốm thời Lý - Vẻ đẹp thanh nhã của mỹ thuật Đại Việt
Gốm thời Lý là một trong những dấu mốc quan trọng của lịch sử gốm Việt Nam. Sau khi nhà Lý dời đô ra Thăng Long năm 1010, kinh đô mới trở thành trung tâm chính trị, tôn giáo và văn hóa lớn của Đại Việt. Trong bối cảnh ấy, nghề gốm phát triển mạnh, không chỉ phục vụ đời sống thường ngày mà còn đáp ứng nhu cầu của cung đình, kiến trúc Phật giáo, nghi lễ và sinh hoạt tôn giáo.
Điểm đáng chú ý của gốm thời Lý là vẻ đẹp thanh nhã, tinh tế, mềm mại. Khác với gốm thời Trần có xu hướng khỏe khoắn và phóng khoáng hơn, hay gốm thời Lê nổi bật với hoa lam rõ nét, gốm Lý thường gây ấn tượng bằng sắc men dịu, dáng gốm cân đối và hoa văn mang tinh thần Phật giáo. Những dòng men trắng, men trắng ngà, men ngọc, men xanh lục cùng các mô típ hoa sen, hoa cúc, lá đề, rồng, mây, sóng nước đã tạo nên một phong cách riêng của mỹ thuật Đại Việt thế kỷ XI – XIII.
Địa Chỉ Cửa Hàng Chúng Tôi
Hotline: 098.13.02468
Email: contact@laocovat.com
Địa chỉ: 332 Âu Cơ - Nhật Tân - Tây Hồ - Hà Nội