Thạp Hán 2000 Năm "Tam Dương Tọa Đỉnh"
Những thế kỷ đầu Công nguyên, nghề làm gốm Việt Nam có bước nhảy vọt đáng kể về công nghệ. Giai đoạn này, cùng với những kỹ thuật mới trong chế tác đồ gốm được phổ biến ở Trung Hoa như: làm khuôn, gắn chắp các thành phần sau đổ khuôn, tráng men và nung trong lò với nhiệt độ cao, người Việt với trình độ, kinh nghiệm truyền thống sẵn có, vừa giữ gìn, bảo tồn văn hóa dân tộc, vừa linh hoạt tiếp thu những yếu tố kỹ thuật mới, tạo nên những đồ gốm mang sắc thái riêng biệt, làm giàu cho kho tàng văn hóa nước nhà và trở thành một trong số ít các quốc gia trên thế giới có nghề sản xuất đồ gốm men ra đời sớm và phát triển liên tục.
Số lượng :
* Giá sản phẩm chưa bao gồm VAT
Những thế kỷ đầu Công nguyên, nghề làm gốm Việt Nam có bước nhảy vọt đáng kể về công nghệ. Giai đoạn này, cùng với những kỹ thuật mới trong chế tác đồ gốm được phổ biến ở Trung Hoa như: làm khuôn, gắn chắp các thành phần sau đổ khuôn, tráng men và nung trong lò với nhiệt độ cao, người Việt với trình độ, kinh nghiệm truyền thống sẵn có, vừa giữ gìn, bảo tồn văn hóa dân tộc, vừa linh hoạt tiếp thu những yếu tố kỹ thuật mới, tạo nên những đồ gốm mang sắc thái riêng biệt, làm giàu cho kho tàng văn hóa nước nhà và trở thành một trong số ít các quốc gia trên thế giới có nghề sản xuất đồ gốm men ra đời sớm và phát triển liên tục.
Nếu như ở thời Đông Sơn trước đó, chúng ta chưa phát hiện được một trung tâm sản xuất nào, bởi những sản phẩm gốm chủ yếu là tự túc, tự cấp, không có sự chuyên biệt, quy trình sản xuất đơn giản và gọn nhẹ, thì đến giai đoạn này, hàng loạt trung tâm sản xuất gốm có quy mô lớn đã ra đời. Những lò gốm ở Tam Thọ (Thanh Hóa), Thanh Lãng, Lũng Ngoại, Đồng Đậu (Vĩnh Phúc), Đại Lai, Luy Lâu, Đương Xá (Bắc Ninh)… xuất hiện cùng với sự chuyển biến từ kỹ thuật sản xuất đồ gốm đất nung không men sang đồ gốm có men, được những người thợ thủ công Việt với thợ gốm người Hán thực hiện nung trong lò cóc, lò ống, với quy trình và tổ chức sản xuất khoa học và tiên tiến. Họ tạo ra những đồ dùng bằng gốm với nhiều loại hình và kiểu dáng rất phong phú, nhiệt độ nung cao, trên 1.000oC. Kết quả khai quật khảo cổ học khu lò gốm Tam Thọ cho thấy có sự phân công lao động mang tính chuyên môn hóa cao. Tại đó, các nhà khảo cổ đã xác định được những khu vực sản xuất chuyên biệt, như: nơi luyện đất, nơi tạo dáng (xương gốm), nơi phơi gốm, nơi nung… Đồ gốm thời kỳ này có xương gốm dày, cứng; men mỏng, thường không phủ hết đồ vật, men màu vàng ngà, trắng nhạt, trắng xám; trang trí văn in nổi ô trám, hoa văn xương cá hoặc lá dừa, hình thoi, chữ S, văn chải, văn sóng nước... một số ấm, âu, hũ có trang trí hình cánh sen, chim, cá, đầu gà, đầu voi. Nhiều loại hình đồ vật được làm phỏng theo hình dáng của các đồ đồng đương thời như hoà (盉), nhĩ bôi (耳 杯), liêm (奩) hình trụ, bình con tiện, bình có quai, bát chân cao...
Có thể nói, mặc dù có sự ảnh hưởng về phong cách và kỹ thuật ngoại lai, nhưng nguyên liệu chế tạo xương và men của đồ gốm thời kỳ này được khai thác tại chỗ; nhiều loại hình nồi, vò, vẫn giữ được nguyên dáng của truyền thống gốm Đông Sơn trước đó. Do vậy, khi nghiên cứu về gốm Việt Nam giai đoạn 10 thế kỷ sau Công nguyên, các nhà nghiên cứu của Nhật Bản, Hàn Quốc, thậm chí cả Trung Quốc lục địa, cũng phải thừa nhận rằng, họ không nhìn thấy sự giống nhau giữa gốm thời Đông Hán ở Trung Nguyên với gốm Việt. Đây quả là sự tài tình của cha ông chúng ta trong giai đoạn chuyển biến lớn của nghề làm gốm, vừa giữ gìn bản sắc, vừa lựa chọn tiếp thu kỹ thuật bên ngoài, để tạo nên nền móng vững chắc cho kỹ thuật gốm men truyền thống Việt Nam.
Mời quý vị chiêm ngưỡng Thạp Hán 2000 năm "Tam Dương Tọa Đỉnh". Tích tụ tinh hoa, trải qua phong hoa 2000 năm thời gian, chất lượng vẫn tuyệt hảo, hình dáng mỹ thuật đầy cuốn hút. Một tác phẩm cấp bậc bảo tàng. Chiều cao: ... cm. Đường kính bụng: ..... cm
Trước mắt chúng ta là một chiếc thạp gốm Việt Nam có niên đại khoảng 2.000 năm, thuộc giai đoạn đầu Công nguyên. Đây là một hiện vật đặc biệt, phản ánh trình độ kỹ thuật chế tác và tư duy thẩm mỹ rất cao của cư dân Việt cổ trong thiên niên kỷ thứ nhất. Mặc dù đất nước trải qua nhiều thế kỷ Bắc thuộc, nghề gốm bản địa vẫn phát triển liên tục, tạo nên những tác phẩm mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc.
Trong giới sưu tầm, dòng hiện vật này thường được gọi là "đồ Hán". Tuy nhiên, đây chỉ là cách gọi mang tính quy ước về niên đại lịch sử. Phần lớn những hiện vật như thế này được sản xuất tại các lò gốm ở Giao Châu bởi những nghệ nhân bản địa, phản ánh sự kế thừa truyền thống gốm Việt đồng thời tiếp thu có chọn lọc những ảnh hưởng văn hóa đương thời.
Điểm nổi bật của chiếc thạp là tình trạng bảo tồn rất đáng quý. Sau khoảng hai thiên niên kỷ, hiện vật vẫn giữ được hình dáng cân đối, kết cấu ổn định và lớp men còn khá nguyên vẹn. Đây là yếu tố cho thấy trình độ tuyển chọn nguyên liệu, tạo hình và kỹ thuật nung gốm của người xưa đã đạt đến mức hoàn thiện.
Quan sát tổng thể, chiếc thạp có tỷ lệ hài hòa, thân nở đều, vai rộng, tạo cảm giác vững chãi nhưng không nặng nề. Hai quai được đắp nổi cân xứng, gắn kết tự nhiên với thân gốm. Bao quanh thân là hệ thống hoa văn khắc vạch đặc trưng của gốm đầu Công nguyên, được thực hiện bằng những đường khắc dứt khoát, đều tay và có nhịp điệu. Đặc biệt, các mô típ hình mặt người được thể hiện một cách cô đọng nhưng giàu biểu cảm, không chỉ có giá trị trang trí mà còn mang ý nghĩa nghiên cứu về tín ngưỡng và nghệ thuật tạo hình của cư dân thời kỳ này.
Phần núm nắp được trang trí bằng các họa tiết bố cục hướng tâm, tạo nên điểm nhấn thị giác hài hòa và cân đối. Mặc dù ý nghĩa biểu tượng của các mô típ này vẫn còn được giới nghiên cứu tiếp tục làm rõ, nhưng xét dưới góc độ mỹ thuật, chúng thể hiện tư duy bố cục rất chặt chẽ và trình độ chế tác tinh xảo.
Đặc sắc nhất là ba tượng hươu được tạo tác trên đỉnh nắp. Cả ba đều trong tư thế nằm, ngoảnh đầu về phía sau với tỷ lệ cân đối, đường nét mềm mại và giàu sức sống. Chi tiết này cho thấy khả năng tạo hình trên chất liệu đất nung của nghệ nhân đã đạt đến trình độ rất cao. Toàn bộ hiện vật mang một ngôn ngữ tạo hình hài hòa, kết hợp giữa vẻ bề thế của hình khối với sự tinh tế trong từng chi tiết, tạo nên một giá trị thẩm mỹ bền vững vượt qua thời gian.
Dưới góc độ thẩm định cổ vật, chiếc thạp hội tụ nhiều yếu tố quan trọng của một hiện vật có giá trị sưu tầm và nghiên cứu: niên đại sớm, tính nguyên gốc cao, tình trạng bảo tồn tốt, kỹ thuật chế tác tinh xảo, ngôn ngữ tạo hình đặc sắc và giá trị lịch sử – văn hóa nổi bật. Đây không chỉ là một cổ vật quý hiếm mà còn là minh chứng sống động cho tài năng, óc sáng tạo và trình độ thủ công của tổ tiên Việt Nam cách đây khoảng 2.000 năm.
Nếu có dịp, kính mời quý vị đến Lão Cổ Vật để trực tiếp chiêm ngưỡng hiện vật đặc biệt này và cùng cảm nhận vẻ đẹp trường tồn của một tuyệt tác gốm cổ Việt Nam.
#ThapHan #2000Nam #TamDuongToaDinh #LaoCoVat #Antique
Đồ cổ, đồ xưa là một lĩnh vực đặc thù rất khó phân biệt thật giả cho những người mới tiếp xúc, bởi vậy Lão Cổ Vật hoạt động với phương châm đồ cổ thật. Lão Cổ Vật cũng là nơi duy nhất hiện tại cam kết mua lại các tác phẩm đã giao lưu. Quý Nhà sưu tầm có thể chuyển đổi các tác phẩm của mình thành tiền hoặc đổi tác phẩm khác bất cứ lúc nào, chính sách nhằm thể hiện rõ giá trị của một tác phẩm đồ cổ đó chính là tài sản, sưu tầm đồ cổ chính là tích sản.
Kiến thức sưu tập
Học cách phân biệt đồ cổ, đồ giả cổ và thẩm định giá trị đồ cổ khóa học Đồ cổ Nhập môn Thực chiến
Nhà sưu tầm Nguyễn Duy Tuấn chia sẻ chủ đề Mạch ngầm cổ vật trong chương trình Nhịp sống Hà Nội
Lão Cổ Vật chia sẻ phân biệt đồ đồng giả cổ trên VTV24
Thỉnh Phật Di Lặc cho hạnh phúc và tài lộc vượng khí
Đặc điểm nhận dạng của tượng Phật Di Lặc đó là hình tượng mập mạp, khỏe mạnh, mặc áo hở bụng căng tròn, đi chân trần thể hiện sự vô lượng, thanh thản và nhẹ nhàng. Nổi bật nhất là gương mặt hiền hậu, nụ cười hiền hòa vô cùng hoan hỷ. Thể hiện sự vui vẻ, hạnh phúc và lạc quan trong cuộc sống. Lỗ tai dài biểu thị sự từ bi, bác ái, biết lắng nghe và thấu hiểu nỗi lòng của mọi người.
Trong phong thủy, tượng Phật Di Lặc cầm thỏi vàng và túi châu báu tượng trưng cho sự thịnh vượng, giàu sang, may mắn và tốt lành. Đôi khi còn nhìn thấy hình ảnh Phật Di Lặc cầm theo quả hồ lô, gậy như ý biểu tượng cho sức khỏe dồi dào, trường thọ và mọi việc đều như mong muốn.
Di Lặc là biểu tượng tuyệt đối của hạnh phúc trong phong thủy. Theo truyền thuyết, niềm vui lớn nhất của vị Bồ Tát này là biến những buồn phiền, giận dữ, áp lực hay căng thẳng của con người thành hạnh phúc. Người ta quan niệm rằng nội tâm của Di Lặc mạnh tới mức nó luôn tỏa sáng trên khuôn mặt hiền từ và những nơi ngài đi qua đều gieo rắc hạnh phúc.
Di Lặc cũng được coi là biểu tượng của sự hài hòa, niềm vui vô tư lự. Chỉ cần nhìn ngắm khuôn mặt Phật, người buồn phiền cũng có thể thấy vui lên. Xoa bụng Phật được cho là mang lại vận may và sự tốt lành.



