Tư vấn thẩm định cổ vật

Trang chủ / Kiến thức Sưu tầm

Kiến thức Sưu tầm Cổ vật

Một món đồ cổ có thể được chào giá vài triệu, vài chục triệu, vài trăm triệu, thậm chí vài tỷ đồng. Nhưng ai định giá cho đồ cổ và khi nào một mức giá thực sự được thị trường công nhận?

Đây là câu hỏi mà hầu như bất kỳ ai bước vào thú chơi cổ vật cũng từng quan tâm. Từ người mới nhập môn cho đến những nhà sưu tầm đã có nhiều năm kinh nghiệm, câu chuyện định giá cổ vật luôn là một trong những vấn đề khó nhất.

15 TH 9

Vì sao người sưu tầm cần có tiêu chí ngay từ đầu?

Kính thưa quý chư vị,

Trong hành trình hình thành một bộ sưu tập cho riêng mình, theo quan điểm cá nhân của tại hạ, việc xác định tiêu chí sưu tầm ngay từ đầu là một trong những yếu tố quan trọng để sưu tầm đồ cổ hiệu quả.

Bởi cùng một khoảng thời gian, cùng một công sức và cùng một số tiền bỏ ra, nếu chúng ta có định hướng rõ ràng thì kết quả sau vài năm sẽ rất khác.

 

15 TH 9

Có người nói chơi đồ cổ là thú vui của thời gian. Nhưng càng gắn bó lâu với cổ vật, ta càng nhận ra rằng những món đồ xưa không chỉ lưu giữ dấu vết của quá khứ, mà còn âm thầm dạy con người cách sống chậm hơn, nhìn sâu hơn và bình thản hơn trước cuộc đời.

Một món cổ vật có thể tồn tại hàng trăm, thậm chí hàng nghìn năm. Trên bề mặt của nó là lớp men đã lão hóa, những vết mòn tự nhiên, dấu phong hóa và vô số biến đổi mà thời gian để lại. Muốn hiểu được những dấu vết ấy, người chơi không thể nóng vội.

Mỗi lớp men cần được quan sát. Mỗi vết tích cần được đối chiếu. Mỗi niên đại, dòng lò hay kỹ thuật chế tác đều cần quá trình tìm hiểu và nghiệm chứng.

14 TH 9

Việc sưu tầm đồ cổ theo thời gian có thể tạo nên một sức hút rất riêng. Một nhà sưu tầm đồ cổ lâu năm đôi khi khiến người đối diện cảm nhận được sự hấp dẫn đặc biệt, thậm chí phảng phất một chút gì đó thần bí.

Kính thưa quý chư vị, theo quan sát của tại hạ, điều này là tương đối dễ hiểu.

Thông qua quá trình sưu tầm, nghiên cứu, cũng như tham khảo những bài nói chuyện của các vị giáo sư, các nhà nghiên cứu bên Trung Quốc và những bậc lão thành có nhiều năm kinh nghiệm, tại hạ dần đúc rút ra một điều: sức hấp dẫn của một nhà sưu tầm không chỉ đến từ những món đồ họ sở hữu, mà còn đến từ bề dày tri thức được tích lũy trong suốt hành trình chơi đồ cổ.

 

13 TH 9

Đồ cổ do có giá trị không nhỏ nên thu hút sự quan tâm của rất nhiều người. Chính sự quan tâm của đông đảo mọi người đã tạo cơ hội để những kẻ làm giả lợi dụng. Vì vậy, bất kỳ việc giám định nào cũng phải lấy hiện vật thực tế làm chính; chỉ dựa vào mô tả bằng văn bản thì vĩnh viễn không thể giám định được thật – giả của món đồ sưu tầm.

Khuyến nghị những nhà sưu tầm khi có cơ hội nên thường xuyên thỉnh giáo các chuyên gia, những người có kinh nghiệm; đồng thời cũng có thể thường xuyên đến các bảo tàng tại địa phương để tham quan, học hỏi. Tốt nhất là có thể theo một số người có danh tiếng, trực tiếp cầm trên tay đồ thật, như vậy mới có thể học được nhiều điều hơn.

Bất kỳ việc giám định nào cũng đều phải lấy đồ thật làm tham chiếu, thông qua đối chiếu, so sánh lẫn nhau mới có thể nhanh chóng bước vào lĩnh vực này.

Nếu quý vị đang có món đồ sưu tầm muốn giám định hoặc chuyển nhượng, hoan nghênh gọi điện để được tư vấn; đồng thời cũng hoan nghênh các nhà sưu tầm cùng nhau trao đổi, thảo luận.

12 TH 9

Đây là một tác phẩm thuộc thời Khang Hy, thế kỷ 18, cách chúng ta hơn 300 năm, vô cùng quý hiếm và thuộc dòng đồ có phẩm cấp sưu tầm cao. Có thể nói, những tác phẩm như thế này chính là hiện vật góp phần tạo nên chiều sâu cho một bộ sưu tập cổ vật.

Kính thưa quý chư vị, trước mặt chúng ta là một tác phẩm rất đặc biệt. Chúng ta có thể tiến lại gần một chút để cùng chiêm ngưỡng.

 

12 TH 9

Một món quý vật có tuổi đời hàng trăm năm, sở hữu kích thước lớn, hoa văn cánh sen nổi đặc trưng và nước men lục vẫn bóng khỏe – đó chính là chiếc liễn gốm cánh sen thời Trần đang hiện diện tại tiệm Lão Cổ Vật.

Kính thưa quý chư vị, đây là một tác phẩm đặc biệt không chỉ bởi tuổi đời sâu mà còn bởi mỹ thuật, kích thước và tình trạng bảo tồn rất đáng quý.

11 TH 9

Long Ngư Hý Thủy Đại Nghiệp Tất Thành – rồng ở trên trời cao, cá ở dưới biển sâu, mỗi loài đều được đặt trong một không gian rộng lớn để thỏa sức vẫy vùng. Đằng sau đề án tưởng chừng chỉ mang tính trang trí ấy lại là những tầng ý nghĩa về chí hướng, sự nghiệp, sự vươn lên và điển tích cá hóa rồng.

Kính thưa quý chư vị bằng hữu và những người yêu cổ ngoạn!

Ngày hôm nay, Tại Hạ xin giới thiệu đến quý chư vị một đề án tương đối thường gặp trên các dòng đồ sứ cũng như một số dòng đồ cổ khác, đó chính là Long Ngư Hý Thủy.

10 TH 9

Kính thưa quý chư vị, trước mắt chúng ta đây là một số món đồ gốm cổ thuộc nhiều thời kỳ khác nhau. Nếu cộng tổng tuổi đời của tất cả những món đồ này lại thì rơi vào khoảng 8.000 năm. Một con số rất ấn tượng đúng không ạ?

Và cũng có một thử thách nho nhỏ dành cho quý chư vị: trong những món đồ đang có ở trên này, món nào thuộc thời Hán, món nào thuộc thời Trần, món nào thuộc thời Lê? Thậm chí có những món chúng ta phải gọi là Lý – Trần.

Tại hạ muốn chia sẻ đến quý chư vị một cách để nhận diện đồ gốm chuẩn cổ thông qua sự lão hóa của lớp men phủ trên bề mặt.
 

5 TH 9

Món đồ của bạn có được gọi là đồ cổ không? Có phải cứ một món đồ tồn tại trên 100 năm thì mặc nhiên trở thành cổ vật?

Kính thưa quý chư vị, chúng ta sẽ cùng nhau đến với một nội dung tưởng chừng rất đơn giản, nhưng nếu không được chia sẻ cặn kẽ thì có lẽ nhiều người vẫn chưa thực sự hiểu đúng hoàn toàn.

31 TH 8

Chỉ nhìn sắc hoa lam, có thể phân biệt Khang Hy – Ung Chính – Càn Long?

Hoa lam Khang Hy nổi bật với sắc xanh biếc, tươi sáng, phân tầng rõ rệt nhờ kỹ pháp phân thủy, đặc biệt được ca ngợi là “Thúy Mao lam” hay “ngũ thái hoa lam”. Sang thời Ung Chính, do thịnh hành phỏng cổ, sắc hoa lam trở nên đa dạng nhưng nhìn chung thanh nhã, hơi thiếu ổn định và thường có hiện tượng loang tán. Đến triều Càn Long, màu lam thuần chính, sáng rõ, phát sắc ổn định; hoa văn quy chỉnh và đường nét sắc nét hơn.

Tuy nhiên, sắc độ chỉ là một căn cứ. Muốn định niên đại chính xác, người chơi còn phải đối chiếu khí hình, thai cốt, men, họa phong, chân đế và khoản thức.

30 TH 8

Vì sao cùng là hoa lam nhưng mỗi triều lại có một sắc độ khác nhau?

Từ sắc lam đậm rực, xuất hiện đốm nâu đen của Tô Ma Ly thanh thời Nguyên – Vĩnh Lạc – Tuyên Đức; vẻ nhẹ nhàng như mây phủ của Bình Đẳng thanh thời Thành Hóa; đến sắc tím biếc của Hồi thanh pha Thạch Tử thanh thời Gia Tĩnh – Vạn Lịch, mỗi màu hoa lam đều mang dấu ấn riêng của một thời đại.

Đến triều Khang Hy, Chiết liệu kết hợp kỹ pháp phân thủy tiếp tục đưa nghệ thuật hoa lam lên đỉnh cao mới: sắc lam trong sáng, phân tầng rõ rệt và giàu cảm giác lập thể.

Hiểu thanh liệu, khả năng phát sắc và đặc trưng niên đại chính là nền tảng quan trọng để giám thưởng, định niên đại đồ sứ hoa lam.

30 TH 8

Đồ cổ có giá trị từ vài triệu đến hàng trăm triệu, thậm chí hàng tỷ đồng. Nhưng liệu món đồ càng đắt tiền thì càng cần một phương pháp bảo quản đặc biệt? Và với một nhà sưu tầm cá nhân, bảo quản đồ cổ thế nào cho đúng để vừa an toàn, vừa giữ được vẻ đẹp và tình trạng của hiện vật?

Kính thưa quý chư vị, thực ra cách bảo quản cổ vật trước hết phải phụ thuộc vào chất liệu, đặc tính và tình trạng của từng món đồ.

30 TH 8

Đồ sứ hoa lam hậu kỳ triều Minh

Từ Gia Tĩnh–Long Khánh, chế độ “quan đáp dân thiêu” giúp kỹ nghệ dân diêu phát triển, thu hẹp khác biệt với quan diêu. Hoa lam Gia Tĩnh dùng Pha Đường thanh, Thạch Tử thanh và Hồi thanh, phát sắc lam biếc ánh tím. Đồ Long Khánh kế thừa triều trước nhưng bố cục thưa thoáng, phổ biến kỹ pháp đơn tuyến bình đồ.

Thời Vạn Lịch, sản lượng tăng mạnh, xuất hiện sứ ngoại tiêu; Chiết liệu cho sắc u lam ánh xám, bố cục nhiều tầng, đôi khi kết hợp chạm thủng. Sang Thiên Khải, quan diêu suy thoái nhưng dân diêu phát triển nhờ ngoại thương; khí vật nhỏ tinh tế, hoa lam đa sắc và chịu ảnh hưởng Nhật Bản. Đến Sùng Trinh, quan diêu đình phế, thai cốt phần lớn thô xốp, trắng xám; trang trí thịnh hành ám hoa và đề tài sơn thủy giàu hơi thở đời sống.

29 TH 8

Đồ sứ hoa lam giai đoạn giữa triều Minh

Giai đoạn giữa triều Minh mở đầu bằng gần 30 năm Chính Thống – Cảnh Thái – Thiên Thuận, thường được giới cổ ngoạn gọi là “thời kỳ trống”. Do quốc thế suy vi, nghề sứ Cảnh Đức Trấn sa sút, phẩm chất khí vật không còn tinh mỹ như thời Vĩnh Lạc – Tuyên Đức.

Hoa lam Chính Thống dùng thanh liệu nội địa, sắc lam ánh xám, trầm tối, bố cục khá dày. Đồ Cảnh Thái có thai cốt thô, bạch sa để, men dày ánh xanh và nhiều bọt khí nhỏ. Sang Thiên Thuận, thai dày nặng nhưng sứ hóa tốt; men trắng nhuận, sắc lam chàm phân thành hai dạng đậm – nhạt, hoa văn dần thưa thoáng, thanh nhã.

Từ Thành Hóa, Ngự diêu Cảnh Đức Trấn phục hưng. Đồ Thành Hóa nổi tiếng với thai mỏng nhẹ, men nhuận, dáng nhỏ thanh tú, nên có câu “Thành Hóa vô đại khí”. Hoằng Trị tiếp tục dùng Bình Đẳng thanh, sắc lam nhạt ánh xám. Đến Chính Đức, khí hình trở nên chắc khỏe, dùng Thạch Tử thanh, hoa văn dày, phổ biến kỹ pháp song câu bình đồ, chữ Ba Tư và đồ án cát tường.

28 TH 8

 

Cao thủ cầm đồ cổ để xem như thế nào?

Có một chi tiết tưởng chừng rất nhỏ, nhưng đôi khi chỉ cần nhìn cách một người nâng một món cổ vật lên, người có kinh nghiệm đã phần nào biết được người ấy là người mới chơi hay đã sưu tầm đồ cổ lâu năm.

Kính thưa quý chư vị, trong giới sưu tầm có một nguyên tắc rất quan trọng khi cầm và xem đồ cổ: không bao giờ được xách một chiếc bình, lộc bình hay lọ cao bằng phần cổ của nó.

27 TH 8

Đặc trưng đồ sứ hoa lam giai đoạn đầu triều Minh

Hoa lam đầu triều Minh trải qua ba thời kỳ tiêu biểu: Hồng Vũ, Vĩnh Lạc và Tuyên Đức, mỗi giai đoạn mang một phong cách riêng.

Hoa lam Hồng Vũ thể hiện rõ tính chất chuyển tiếp từ Nguyên sang Minh. Thanh liệu nội địa cho sắc lam thiên xám, đôi khi xuất hiện đốm gỉ sắt. Đồ quan diêu có nét vẽ tinh tế, trong khi dân diêu phóng khoáng với lối “nhất bút điểm họa”.

Đến thời Vĩnh Lạc, kỹ nghệ chế tác đạt bước phát triển rực rỡ. Thanh liệu Tô Ma Ly thanh tạo sắc lam đậm, có độ loang tán và phân tầng tự nhiên. Hoa văn tinh mỹ, bố cục nhiều khoảng lưu trắng, tạo cảm giác vừa trầm hùng vừa thanh thoát.

Sang thời Tuyên Đức, đồ hoa lam trở thành một chuẩn mực của gốm sứ Trung Quốc. Thai cốt thường dày, chắc và nặng hơn Vĩnh Lạc; men trắng ánh xanh, dày nhuận, bề mặt gợn nhẹ như vỏ cam. Hoa văn được thể hiện quy củ, đường bút lưu loát, sắc độ rõ ràng.

25 TH 8

Trên mạng em thấy có bình luận nói rằng nói chuyện về đồ cổ thì có vẻ rất sành sỏi, nhưng mà phía sau lưng lại không có đồ cổ. Có đúng không ạ?”

Thực ra, nếu là một người mới làm nghề, mới va chạm với đồ cổ và thị trường sưu tầm, thì khi nghe một câu như vậy, phản ứng đầu tiên có khi là phải lôi ngay một món đồ cổ ra, chụp ảnh, quay video rồi trả lời vào comment để chứng minh rằng: ‘Đây, tôi có đồ cổ đây.’

Thế nhưng anh làm nghề này cũng nhiều năm rồi, va chạm cũng tương đối nhiều, nên khi nghe một câu như vậy, anh nghĩ mình phải bình tĩnh phân tích được mấy cái ý sau.

 

21 TH 8

600 triệu cho một bộ sưu tập đồ cổ – đã thực sự là “đau ví” hay chưa?

Kính thưa quý chư vị, ở video trước, chúng ta đã cùng nhau nói về cách sưu tập đồ cổ để không đau ví. Và hôm nay, đúng như lời đã hứa, tại hạ xin chia sẻ đến quý chư vị một bộ sưu tập mini.

Nói là “bộ sưu tập mini” thì thực ra cũng chưa hoàn toàn chính xác. Đây là những món cổ vật Việt Nam thuộc nhiều thời kỳ khác nhau, từ Lý – Trần, Lê cho đến Nguyễn. Nhưng nếu cộng tổng giá trị những món đồ đang có trên bàn thì con số cũng nằm đâu đó trong khoảng 600–700 triệu đồng.

Tất nhiên, đây chỉ là con số tương đối, bởi giá trị mỗi món còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như niên đại, tình trạng bảo tồn, độ hiếm, chất lượng và cấp độ của hiện vật.

Vậy câu hỏi đặt ra là: 600–700 triệu đồng để sưu tầm những món đồ này, đã gọi là “đau ví” hay chưa?

20 TH 8

Có nên cạo men để kiểm tra tình trạng đồ không? Đây là một cách kiểm tra từng khá phổ biến trong giới chơi đồ cổ, đặc biệt khi người chơi muốn xác định một món đồ gốm sứ cổ có còn lành nguyên hay đã qua sửa chữa. Tuy nhiên, nếu thực hiện không đúng cách, hành động tưởng như đơn giản này lại có thể làm xước men, bong men và ảnh hưởng trực tiếp đến độ toàn hảo của cổ vật.

Kính thưa quý chư vị, trước đây khi đi xem một món đồ cổ, đồ xưa, nhiều người thường dùng đầu da hoặc tiện nhất là lấy một chiếc chìa khóa để cạo nhẹ lên bề mặt men.

Mục đích của việc cạo men là để kiểm tra tình trạng đồ cổ, xem trên thân món đồ có vị trí nào đã qua sửa chữa hay không, hay món đồ vẫn còn lành nguyên.

18 TH 8

Kính thưa quý chư vị, tại sao chúng ta lại nói “Ông Cha sưu tầm, Con cháu hưởng lợi”?

Chúng ta cùng quay trở lại với hành trình sưu tầm đồ cổ của mình.

Đối với nhiều nhà sưu tầm, nếu đã trải qua một hành trình đủ lâu, chắc hẳn chúng ta đều từng có cảm nhận rằng giá trị của đồ cổ có thể tăng lên theo thời gian một cách tương đối ổn định. Tất nhiên, điều này trước hết phải nói đến những món đồ đẹp, có giá trị, đặc biệt là quý hiếm, mang giá trị cả về mặt thẩm mỹ lẫn lịch sử.

16 TH 8

Dưới triều Vạn Lịch (1573–1620), các ngự diêu nhà Minh đã tạo tác nên nhiều dòng đồ sứ đạt trình độ cao về khí hình, kỹ thuật chế tác và nghệ thuật trang trí. Tám trân phẩm từng được Christie’s giới thiệu là những đại diện tiêu biểu cho giai đoạn này.

Nổi bật có hũ ngũ thái “Bách Lộc” Keswick, bát đấu thái “Bát Cát Tường”, cao túc bôi thanh hoa trang trí hải thú, hộp thanh hoa hình nguyên bảo, đôi bình ngũ thái miệng tỏi và bình hoa cô ngũ thái.

Các tác phẩm cho thấy sự kế thừa tinh hoa thanh hoa Tuyên Đức, Thành Hóa, đồng thời thể hiện trình độ chế tác riêng của thời Vạn Lịch. Những kỹ pháp thanh hoa, đấu thái, ngũ thái, kết hợp sắc lam cobalt, hồng sắt, lục, vàng cùng các đồ án cát tường đã tạo nên giá trị nghệ thuật đặc biệt.

Điều gì khiến những món sứ Vạn Lịch này trở thành trân phẩm được giới sưu tầm quốc tế săn tìm?

15 TH 8


Hình dáng và cấu trúc cổ vật là những yếu tố quan trọng giúp người nghiên cứu nhận diện, thẩm định và từng bước xác định giá trị của một tác phẩm cổ vật. Từ kích thước, tỷ lệ, cấu tạo cho đến những đặc điểm dị biệt và phong cách hình thể của từng thời kỳ, mỗi chi tiết đều có thể ảnh hưởng trực tiếp đến việc định giá cổ vật.
 

15 TH 8

Trong giới cổ ngoạn có câu “Minh khán Thành Hóa” – nhắc đến đồ sứ Minh, Thành Hóa (1465–1487) luôn là một trong những thời kỳ đặc biệt được coi trọng. Nổi bật nhất là thanh hoa và đấu thái, với khí hình nhỏ nhắn, thai cốt mỏng nhẹ, men nhuận, sắc màu thanh nhã và họa pháp tinh tế.

Nhưng đâu là những đặc trưng quan trọng để nhận diện một món sứ Thành Hóa?

Bài viết tập trung vào 4 phương diện cốt lõi trong thẩm định: thai – men, hoa văn, niên khoản và thanh liệu. Thai Thành Hóa thường trắng mịn, nhẹ và thanh tú; men béo nhuận, có cảm giác như ngọc. Hoa văn thiên về đường nét mềm mại, thanh mảnh, sắc điệu đạm nhã và hiệu quả trang trí tương đối bình diện.

Niên khoản điển hình là “Đại Minh Thành Hóa niên chế”, trong khi hình thức, bút pháp và cách viết khoản cũng là những yếu tố cần đặc biệt lưu ý khi giám định.

Về thanh hoa, thời Thành Hóa chuyển sang sử dụng Bình Đẳng Thanh, tạo sắc xanh pha xám dịu nhẹ, ổn định và nhìn chung không có hiện tượng tụ liệu, ban sắt đậm đặc trưng của Tô Ma Ly Thanh thời Vĩnh – Tuyên.

14 TH 8