Tư vấn thẩm định cổ vật

Trang chủ / Kiến thức Sưu tầm

Kiến thức Sưu tầm Cổ vật

Trong hành trình sưu tầm đồ cổ, chắc hẳn không ít người từng đặt câu hỏi: Thế nào là một món đồ sưu tầm tốt? Một món đồ đẹp đã đủ hay còn cần những tiêu chí nào khác để đánh giá giá trị?

Theo một bộ tiêu chuẩn mà STBI từng đưa ra, có nhiều yếu tố được sử dụng để đánh giá giá trị của một tác phẩm nghệ thuật nói chung cũng như một tác phẩm đồ cổ nói riêng, trong đó có tính nguồn gốc, tính xác thực, tính quý hiếm cùng nhiều tiêu chí khác.

Một tác phẩm càng hội tụ nhiều yếu tố giá trị thì giá trị của nó càng cao.

Vậy nên, có thể hiểu một cách đơn giản rằng, một món đồ sưu tầm tốt là món đồ đáp ứng được càng nhiều tiêu chí quan trọng càng tốt.

8 TH 8

Sưu tầm đồ Việt cần bao nhiêu tiền? Đây có lẽ là câu hỏi mà rất nhiều người yêu cổ vật, đặc biệt là những người mới bước chân vào con đường sưu tầm, đều từng đặt ra. Có người nghĩ rằng đây là thú chơi chỉ dành cho giới đại gia với hàng chục tỷ đồng. Nhưng cũng có người cho rằng chỉ cần vài triệu là đã có thể bắt đầu.

Vậy thực tế như thế nào?

7 TH 8

Sưu tầm đồ cổ từ lâu đã được coi là thú chơi xa xỉ dành cho giới thượng lưu. Tuy nhiên, câu hỏi khiến nhiều người trăn trở nhất chính là: "Cần bao nhiêu tiền mới có thể chơi được đồ cổ?". Trong bài viết này, tại hạ sẽ chia sẻ góc nhìn thực tế về lộ trình tài chính và tâm thế cần có của một nhà sưu tầm chân chính.
 

 

6 TH 8

Tại sao có nhà sưu tầm đồ giả nhiều hơn đồ thật?

Đây là một câu hỏi nghe qua tưởng chừng nghịch lý, nhưng lại là thực tế mà rất nhiều nhà sưu tầm cổ vật đã từng trải qua. Trong những năm đầu bước vào con đường sưu tầm, khi kinh nghiệm còn ít, mối quan hệ chưa nhiều và khả năng nhận định hiện vật còn hạn chế, việc sở hữu những món đồ chưa chuẩn là điều khó tránh khỏi. Liệu điều đó có đồng nghĩa với việc họ bị lừa? Hay đôi khi, đó chỉ là lựa chọn phù hợp với nhu cầu bài trí và điều kiện kinh tế ở từng giai đoạn? Quan trọng hơn cả, người mới chơi cần làm gì để hạn chế mua phải đồ không chuẩn? Làm sao để xây dựng một bộ sưu tập có giá trị theo đúng nghĩa của hai chữ sưu tầm?

3 TH 8

Có rất nhiều cách để nhận biết một món đồ sơn thếp vàng là chuẩn cổ hay không chuẩn cổ. Trong phần chia sẻ ngày hôm nay, Tài Hạ xin giới thiệu ba dấu hiệu đơn giản, trực quan và dễ quan sát nhất để quý chư vị có thể áp dụng ngay.

Tất nhiên, không phải món đồ nào cũng hội tụ đầy đủ cả ba dấu hiệu này. Bởi trải qua quá trình sử dụng, mài mòn hay những biến đổi của thời gian, có những đặc điểm sẽ không còn rõ nữa. Khi đó chúng ta cần kết hợp thêm những phương pháp khác để đánh giá. Nhưng nếu một tác phẩm vẫn còn giữ được cả ba yếu tố này thì đó là những căn cứ rất có giá trị.
 

1 TH 8

Gần nửa thế kỷ trước, vào năm 1968, tôi cùng đoàn sinh viên khoa Lịch sử trường Đại học Tổng hợp Hà Nội theo các giáo sư Hà Văn Tấn và Hán Văn Khẩn đi thực tập khảo cổ học ở Xóm Rền.

Khi đó, Xóm Rền là một địa điểm khảo cổ vừa được phát hiện năm 1967 và lần khai quật 1968 là lần đầu tiên. Sau đợt khai quật này, điều thu hoạch lớn nhất đối với khảo cổ học Việt Nam là sự phô diễn tương đối hoàn chỉnh nghệ thuật chế tác và trang trí trên gốm của cư dân Phùng Nguyên. Lần đầu tiên xuất hiện một công trình nghiên cứu sâu sắc về khả năng tư duy nghệ thuật nguyên thuỷ thông qua đồ gốm Xóm Rền. 

31 TH 7


Kính thưa quý chư vị, đây là câu hỏi mà tại hạ đã nhiều lần trao đổi với các nhà sưu tầm khi ghé chơi tại tiệm Lão Cổ Vật.

Khi chúng ta đứng trước một tác phẩm, điều gì sẽ quyết định hành động xuống tiền để đưa món đồ ấy về nhà? Theo quan điểm của rất nhiều nhà sưu tầm, cũng như trải nghiệm của bản thân tại hạ, thì không riêng gì thú chơi đồ cổ mà trong hầu hết mọi quyết định mua sắm, cảm xúc luôn là yếu tố vô cùng trọng yếu.
 

31 TH 7

Kinh nghiệm thực chiến trong việc sưu tầm đồ cổ không chỉ đến từ sách vở hay những lần tham quan bảo tàng, mà quan trọng nhất là quá trình va chạm với càng nhiều món đồ càng tốt. Càng tiếp xúc với nhiều dòng đồ, nhiều niên đại và chất liệu khác nhau, người chơi càng có cơ hội tích lũy kiến thức thực tế, từ đó nâng cao khả năng nhận biết, đánh giá và định giá cổ vật.

29 TH 7

Người mới chơi không nên hỏi món đồ bao nhiêu tiền là đúng, mà nên hỏi mức giá nào khiến mình đủ trân trọng món đồ ấy.
Bởi khi chúng ta đủ trân trọng, chúng ta sẽ dành thời gian để nghiên cứu, tìm hiểu và học hỏi. Chính quá trình đó mới giúp một người yêu thích đồ cổ từng bước trở thành một nhà sưu tầm thực thụ.
Suy cho cùng, món đồ đầu tiên không chỉ là hiện vật chúng ta sở hữu, mà còn là bài học đầu tiên trên hành trình sưu tầm. Và giá trị lớn nhất của khoản tiền bỏ ra không nằm ở món đồ đắt hay rẻ, mà nằm ở lượng kiến thức và kinh nghiệm chúng ta tích lũy được từ chính hiện vật ấy.

26 TH 7

Khám phá chiến thuật "Bắt Tướng" đỉnh cao trong giới sưu tầm đồ cổ giúp phá vỡ phòng tuyến tâm lý người bán, thâu tóm trọn bộ sưu tập. Bài học thực chiến từ bình vôi lục thời Lê tại Lão Cổ Vật.

25 TH 7

Hiện tượng tụ men, đọng men hay chảy men là một trong những đặc trưng kỹ thuật và thẩm mỹ nổi bật nhất của dòng gốm men sơ kỳ (những thế kỷ đầu Công nguyên). Đặc điểm này xuất hiện phổ biến trên các hiện vật gốm Việt Nam thời Bắc thuộc, gốm thời kỳ độc lập và gốm Trung Hoa thời Hán. Vậy tụ men là gì và làm thế nào để ứng dụng dấu hiệu này trong việc giám định đồ cổ? Hãy cùng Lão Cổ Vật tìm hiểu chi tiết qua bài viết dưới đây.

 

25 TH 7

Hoa văn gốm Phùng Nguyên phản ánh trình độ thẩm mỹ và kỹ thuật tạo hình bậc cao của cư dân tiền sử. Với nguyên tắc bố cục theo băng dải, vành tròn và trục dọc, các họa tiết chính được kết hợp hài hòa cùng họa tiết đệm, tạo nên nhịp điệu cân xứng, sinh động. Sự linh hoạt trong sắp xếp các mảng trang trí cho thấy tư duy sáng tạo và khả năng làm chủ bố cục của người thợ gốm Phùng Nguyên.

18 TH 7

Nghiên cứu kỹ thuật tạo hoa văn giúp chúng ta hiểu thêm về trình độ kỹ thuật sản xuất gốm của người xưa. Kỹ thuật tạo hoa văn trên đồ gốm được phản ánh ở các khía cạnh sau: Phương tiện hay dụng cụ trang trí, các thủ pháp hay kỹ thuật sử dụng công cụ trang trí và cách bố cục các họa tiết trang trí.

 

17 TH 7

Trống Đông Sơn – Kiệt tác của kỹ thuật luyện kim cổ đại
Càng đi sâu nghiên cứu những tri thức khoa học, kỹ thuật luyện kim và trình độ thẩm mỹ của người Đông Sơn, các nhà khoa học ngày nay càng khâm phục tài năng của những nghệ nhân đã sáng tạo nên trống đồng Đông Sơn. Đây không chỉ là một hiện vật khảo cổ mà còn là minh chứng rõ nét cho trình độ phát triển vượt bậc của nền văn minh Việt cổ

15 TH 7

Văn hoá Đông Sơn được đặt tên theo di tích khảo cổ Đông Sơn tìm được năm 1924 ở xã Đông Sơn thuộc vùng sông Mã, tỉnh Thanh Hoá, Việt Nam.

Những cuộc khai quật Đông Sơn đầu tiên được tiến hành từ năm 1924 đến năm 1932 dưới sự điều khiển của L. Pajot, một viên chức thuế quan và cũng là người sưu tầm cổ vật ở Thanh Hoá. Trong bản báo cáo năm 1929 về các chuyến khai quật kể trên, ông V. Goloubew, một học giả Pháp thuộc trường Viễn Đông bác cổ, đã mệnh danh đó là: "Thời đại đồng thau ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ" để ám chỉ nền văn hoá khảo cổ mới được khám phá này. Thuật ngữ “Văn hóa Đông Sơn” được nhà khảo cổ học người áo R. Heine - Geldern đề xuất lần đầu tiên năm 1934.

12 TH 7

Gốm men ngọc - người phương Tây thường gọi là céladon - xuất hiện muộn mằn hơn so với sự ra đời của chính loại men này. Đâu đó, vào thế kỷ 18 qua một nhân vật nổi tiếng trên kịch trường Paris tên là Céladon luôn mặc bộ trang phục có màu xanh thanh thiên, cùng lúc đó gốm men Trung Quốc tràn ngập thị trường Âu Châu - cũng có màu xanh da trời tương tự, nên đương thời gọi luôn loại gốm ấy là céladon. Loại gốm này còn những tên gọi khác, ví dụ: Đông Thanh (như có quan hệ tới vùng ven biển phía Đông xứ Thanh - nơi xuất lộ nhiều tàn tích của loại gốm có liên quan tới những tiểu cảng thời Đại Việt, hẳn chỉ được coi như là những gợi ý đầy chất lãng mạn của lịch sử, mà cũng chẳng mấy tác hại tới sự hưng suy của chính dòng gốm men này, khi tự nó đã biểu lộ trong dòng chảy văn hóa nhân loại nói chung và Việt Nam nói riêng).

12 TH 7

Tiến sĩ Nguyễn Việt, Giám đốc Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á, như một nghệ sĩ lãng du giữa đời, nhưng không phải để mơ mộng, mà để thực hiện những cuộc hành trình vượt thời gian (nói theo ngôn ngữ mới “xuyên không”) về với lịch sử, và xa hơn, về với cả thời còn tiền sử.

10 TH 7

Rồng là linh vật đứng đầu trong tứ linh (long, lân, quy, phụng) vốn được sinh ra từ trí tưởng tượng của người xưa, khi quan sát thiên tượng.

9 TH 7

Nếu không kể đến thời đại Đá mới và Kim khí, đồ gốm Việt cũng giống như bao nền văn hóa khác của nhân loại, đều trải qua thời kỳ gốm không men, được nung ở ngoài trời với nhiệt độ khoảng 700oC và xương gốm chủ yếu được làm từ đất cộng với vỏ nhuyễn thể và bã thực vật, thì thực sự, gốm Việt với tư cách là gốm men cũng đã có lịch sử khoảng 2.000 năm cách ngày nay. Dõi theo 2.000 năm ấy, gốm men Việt có ba mốc chuyển cực kỳ quan trọng, mang tính chất cách mạng và cách tân để dựng xây nên một quốc gia có truyền thống gốm sứ riêng biệt - một khái niệm và thuật ngữ được các học giả phương Tây đưa ra vài thập niên cuối của thế kỷ 20 mà đến nay dường như được đa số giới nghiên cứu thừa nhận. Một truyền thống 2000 năm, với sự riêng biệt không thể trộn lẫn với bất cứ một cường quốc gốm sứ nào trên thế giới của gốm Việt, theo tôi, có sự đóng góp của 3 bước chuyển quan trọng sau đây.

4 TH 7

Gốm sứ cổ, trăm năm, ngàn năm tuổi, được dân gian phân định thành ba mảng rõ nét và ngắn gọn với: đồ đào, đồ vớt, đồ bờ. Ba cái “đồ” ấy hợp thành kho tàng lịch sử về văn hóa, nghệ thuật đặc sắc trong thế giới cổ ngoạn.

4 TH 7

Dàn quân trước mặt tôi đang là trên 300 chiến binh Đông Sơn. Họ được nhận diện từ các mộ táng, từ các hình khắc và nặn của thợ chế tác đồ đồng Đông Sơn, khi thì trên thuyền, khi thì trên bộ - và thảng hoặc lắm thấy họ trên lưng voi trận hay bên cạnh những chú ngựa.
 

2 TH 7

Cuối thế kỷ 14, là thời kỳ phát triển cao nhất của đồ gốm Việt Nam, với nhiều loại men và hoa văn độc đáo, loại đồ gốm mà ngày nay chúng ta được biết dưới tên “Ðồ gốm Chu Ðậu”. Tiếc thay, nền kỹ thuật và mỹ thuật này đã tàn lụi vào đầu thế kỷ 17, sau những trận chiến dữ dội thời Lê Mạc.

 

28 TH 6

Hiếm, quý, đắt giá, khó tác tạo... là những nhận định khi đề cập về gốm men ngọc. Thật tự hào trong kỹ thuật chế tác gốm Đại Việt xưa, men ngọc cũng đã từng vang bóng.

Nói về lịch sử men ngọc, từ thế kỷ 10 đã nổi tiếng phương Bắc, với những mỹ từ miêu tả nước men đẹp đến mức “vũ quá thiên thanh” (trời xanh sau cơn mưa), thậm chí những mảnh - miếng của dòng đồ này còn được sánh ngang với vàng qua câu nói: “Phiến Sài trị thiên kim” (mảnh Sài diêu đáng giá nghìn vàng).

27 TH 6

Mang thân người của chó, sư tử, đến cả rồng, kỳ lân… Nghê hiện hữu từ nơi tôn nghiêm đình, chùa, lăng tẩm, cung điện cho đến chốn dân dã – thân quen như cổng làng… Mỗi sự xuất hiện của Nghê lại là một nét biểu cảm kỳ diệu.

26 TH 6