Kiến thức Sưu tầm
Gốm Phùng Nguyên và cách thức bố cục các họa tiết trang trí
Hoa văn gốm Phùng Nguyên phản ánh trình độ thẩm mỹ và kỹ thuật tạo hình bậc cao của cư dân tiền sử. Với nguyên tắc bố cục theo băng dải, vành tròn và trục dọc, các họa tiết chính được kết hợp hài hòa cùng họa tiết đệm, tạo nên nhịp điệu cân xứng, sinh động. Sự linh hoạt trong sắp xếp các mảng trang trí cho thấy tư duy sáng tạo và khả năng làm chủ bố cục của người thợ gốm Phùng Nguyên.
Kỹ thuật tạo hoa văn trên đồ gốm văn hóa Phùng Nguyên
Nghiên cứu kỹ thuật tạo hoa văn giúp chúng ta hiểu thêm về trình độ kỹ thuật sản xuất gốm của người xưa. Kỹ thuật tạo hoa văn trên đồ gốm được phản ánh ở các khía cạnh sau: Phương tiện hay dụng cụ trang trí, các thủ pháp hay kỹ thuật sử dụng công cụ trang trí và cách bố cục các họa tiết trang trí.
Trống Đông Sơn – Tinh hoa văn minh Việt cổ và đỉnh cao nghệ thuật đúc đồng
Trống Đông Sơn – Kiệt tác của kỹ thuật luyện kim cổ đại
Càng đi sâu nghiên cứu những tri thức khoa học, kỹ thuật luyện kim và trình độ thẩm mỹ của người Đông Sơn, các nhà khoa học ngày nay càng khâm phục tài năng của những nghệ nhân đã sáng tạo nên trống đồng Đông Sơn. Đây không chỉ là một hiện vật khảo cổ mà còn là minh chứng rõ nét cho trình độ phát triển vượt bậc của nền văn minh Việt cổ
Đồ Đồng Đông Sơn – Thời đại vàng đầu tiên của nghệ thuật Việt Nam
Văn hoá Đông Sơn được đặt tên theo di tích khảo cổ Đông Sơn tìm được năm 1924 ở xã Đông Sơn thuộc vùng sông Mã, tỉnh Thanh Hoá, Việt Nam.
Những cuộc khai quật Đông Sơn đầu tiên được tiến hành từ năm 1924 đến năm 1932 dưới sự điều khiển của L. Pajot, một viên chức thuế quan và cũng là người sưu tầm cổ vật ở Thanh Hoá. Trong bản báo cáo năm 1929 về các chuyến khai quật kể trên, ông V. Goloubew, một học giả Pháp thuộc trường Viễn Đông bác cổ, đã mệnh danh đó là: "Thời đại đồng thau ở Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ" để ám chỉ nền văn hoá khảo cổ mới được khám phá này. Thuật ngữ “Văn hóa Đông Sơn” được nhà khảo cổ học người áo R. Heine - Geldern đề xuất lần đầu tiên năm 1934.
Gốm men ngọc Việt Nam
Gốm men ngọc - người phương Tây thường gọi là céladon - xuất hiện muộn mằn hơn so với sự ra đời của chính loại men này. Đâu đó, vào thế kỷ 18 qua một nhân vật nổi tiếng trên kịch trường Paris tên là Céladon luôn mặc bộ trang phục có màu xanh thanh thiên, cùng lúc đó gốm men Trung Quốc tràn ngập thị trường Âu Châu - cũng có màu xanh da trời tương tự, nên đương thời gọi luôn loại gốm ấy là céladon. Loại gốm này còn những tên gọi khác, ví dụ: Đông Thanh (như có quan hệ tới vùng ven biển phía Đông xứ Thanh - nơi xuất lộ nhiều tàn tích của loại gốm có liên quan tới những tiểu cảng thời Đại Việt, hẳn chỉ được coi như là những gợi ý đầy chất lãng mạn của lịch sử, mà cũng chẳng mấy tác hại tới sự hưng suy của chính dòng gốm men này, khi tự nó đã biểu lộ trong dòng chảy văn hóa nhân loại nói chung và Việt Nam nói riêng).
Chiếc kiếm ngắn Đông Sơn mang 'dư ảnh' Bà Trưng, Bà Triệu
Tiến sĩ Nguyễn Việt, Giám đốc Trung tâm Tiền sử Đông Nam Á, như một nghệ sĩ lãng du giữa đời, nhưng không phải để mơ mộng, mà để thực hiện những cuộc hành trình vượt thời gian (nói theo ngôn ngữ mới “xuyên không”) về với lịch sử, và xa hơn, về với cả thời còn tiền sử.
Hình tượng rồng trên đồ gốm sứ Việt Nam
Rồng là linh vật đứng đầu trong tứ linh (long, lân, quy, phụng) vốn được sinh ra từ trí tưởng tượng của người xưa, khi quan sát thiên tượng.
Ba bước chuyển của gốm men Việt
Nếu không kể đến thời đại Đá mới và Kim khí, đồ gốm Việt cũng giống như bao nền văn hóa khác của nhân loại, đều trải qua thời kỳ gốm không men, được nung ở ngoài trời với nhiệt độ khoảng 700oC và xương gốm chủ yếu được làm từ đất cộng với vỏ nhuyễn thể và bã thực vật, thì thực sự, gốm Việt với tư cách là gốm men cũng đã có lịch sử khoảng 2.000 năm cách ngày nay. Dõi theo 2.000 năm ấy, gốm men Việt có ba mốc chuyển cực kỳ quan trọng, mang tính chất cách mạng và cách tân để dựng xây nên một quốc gia có truyền thống gốm sứ riêng biệt - một khái niệm và thuật ngữ được các học giả phương Tây đưa ra vài thập niên cuối của thế kỷ 20 mà đến nay dường như được đa số giới nghiên cứu thừa nhận. Một truyền thống 2000 năm, với sự riêng biệt không thể trộn lẫn với bất cứ một cường quốc gốm sứ nào trên thế giới của gốm Việt, theo tôi, có sự đóng góp của 3 bước chuyển quan trọng sau đây.
Đào – Vớt – Bờ trong thế giới cổ ngoạn
Gốm sứ cổ, trăm năm, ngàn năm tuổi, được dân gian phân định thành ba mảng rõ nét và ngắn gọn với: đồ đào, đồ vớt, đồ bờ. Ba cái “đồ” ấy hợp thành kho tàng lịch sử về văn hóa, nghệ thuật đặc sắc trong thế giới cổ ngoạn.
Văn hóa Đông Sơn - chiến tranh và hòa bình: Vũ khí Đông Sơn - chặt, bổ, đâm
Dàn quân trước mặt tôi đang là trên 300 chiến binh Đông Sơn. Họ được nhận diện từ các mộ táng, từ các hình khắc và nặn của thợ chế tác đồ đồng Đông Sơn, khi thì trên thuyền, khi thì trên bộ - và thảng hoặc lắm thấy họ trên lưng voi trận hay bên cạnh những chú ngựa.
Chu Đậu - Đỉnh cao gốm cổ Việt Nam
Cuối thế kỷ 14, là thời kỳ phát triển cao nhất của đồ gốm Việt Nam, với nhiều loại men và hoa văn độc đáo, loại đồ gốm mà ngày nay chúng ta được biết dưới tên “Ðồ gốm Chu Ðậu”. Tiếc thay, nền kỹ thuật và mỹ thuật này đã tàn lụi vào đầu thế kỷ 17, sau những trận chiến dữ dội thời Lê Mạc.
Tự hào gốm Việt: Gốm men ngọc, tuyệt diêu Đại Việt
Hiếm, quý, đắt giá, khó tác tạo... là những nhận định khi đề cập về gốm men ngọc. Thật tự hào trong kỹ thuật chế tác gốm Đại Việt xưa, men ngọc cũng đã từng vang bóng.
Nói về lịch sử men ngọc, từ thế kỷ 10 đã nổi tiếng phương Bắc, với những mỹ từ miêu tả nước men đẹp đến mức “vũ quá thiên thanh” (trời xanh sau cơn mưa), thậm chí những mảnh - miếng của dòng đồ này còn được sánh ngang với vàng qua câu nói: “Phiến Sài trị thiên kim” (mảnh Sài diêu đáng giá nghìn vàng).
Cảm xúc cùng hình tượng Nghê
Mang thân người của chó, sư tử, đến cả rồng, kỳ lân… Nghê hiện hữu từ nơi tôn nghiêm đình, chùa, lăng tẩm, cung điện cho đến chốn dân dã – thân quen như cổng làng… Mỗi sự xuất hiện của Nghê lại là một nét biểu cảm kỳ diệu.
Linh vật cổ và ý nghĩa cát tường trong văn hóa Việt Nam
Trong kho tàng văn hóa truyền thống Việt Nam, hệ thống linh vật cổ giữ vai trò đặc biệt trong việc phản ánh thế giới quan, tư duy thẩm mỹ và đời sống tín ngưỡng của cộng đồng qua nhiều giai đoạn lịch sử. Những hình tượng như nghê, rồng, lân, quy, hạc không chỉ xuất hiện phổ biến trong kiến trúc đình, đền, chùa và di tích cung đình, mà còn trở thành hệ biểu tượng quen thuộc trong mỹ thuật và đồ thờ tự. Các linh vật này là sản phẩm sáng tạo nghệ thuật mang tính biểu trưng, phản ánh quan niệm của người Việt về trật tự xã hội, thiên nhiên và đời sống tinh thần.
Đồ cổ được xem là vật phẩm phong thủy đặc biệt
Phong thủy không chỉ đơn thuần là việc sắp đặt không gian sống mà còn là sự hài hòa giữa con người và môi trường xung quanh. Từ hàng nghìn năm trước, người phương Đông đã tin rằng mọi vật đều mang những đặc tính riêng, có khả năng tác động đến cảm nhận, tâm lý và đời sống tinh thần của con người. Đồ cổ luôn chiếm một vị trí đặc biệt. Không ít người lựa chọn cổ vật để bài trí trong không gian sống. Tuy nhiên, giá trị của đồ cổ trong phong thủy không nhất thiết nằm ở những lời đồn đoán về khả năng thay đổi vận mệnh hay mang lại tài lộc, mà trước hết bắt nguồn từ những giá trị văn hóa, lịch sử và tinh thần mà hiện vật lưu giữ qua thời gian.
Văn hóa óc eo – Rực rỡ một nền văn minh cổ ở Việt Nam
Văn hóa Óc Eo là một nền văn hóa cổ hình thành và phát triển trong khoảng 10 thế kỉ đầu công nguyên ở đồng bằng Nam bộ, Việt Nam. Tên gọi nền văn hóa này do nhà khảo cổ học người Pháp Louis Malleret đặt ra sau cuộc khai quật khảo cổ học đầu tiên năm 1944 tại khu di tích Óc Eo thuộc xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Trải qua 70 năm phát hiện và nghiên cứu, diện mạo của nền văn hóa đặc sắc, nổi tiếng này ngày càng trở nên rõ nét hơn. Là những chứng tích vật chất của quốc gia cổ Phù Nam
Gốm Việt Cổ Và Những Gam Màu Thần Diệu
Gốm men vàng, men lục, men trắng ngà, men ngọc, men lam xám, men nhiều màu… trước đây cứ ngỡ là xuất xứ của gốm thời Đường, Tống, Nguyên bên đất Trung Hoa, nay đã được định danh một cách cụ thể về niên đại, nguồn gốc là gốm Việt cổ.
Quỳ vàng Kiêu Kỵ: Ánh kim còn mãi
Ở một ngôi làng ven sông Hồng, vàng không nằm trong két sắt mà được lấy búa đánh mỏng thành những phiến ánh sáng. Đó là Kiêu Kỵ, làng nghề duy nhất của Việt Nam còn giữ trọn kỹ thuật làm quỳ vàng truyền thống, nơi gìn giữ không chỉ một nghề thủ công, mà cả linh hồn thị giác của nghệ thuật, trang trí kiến trúc Việt suốt nhiều thế kỷ.
Văn hóa Nhị Lý Đầu và sự khởi đầu của thời đại Đồ Đồng ở Trung Hoa cổ đại
Trong tiến trình hình thành nền văn minh Trung Hoa cổ đại, giai đoạn chuyển tiếp từ thời đại Đá mới sang thời đại Đồ Đồng giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Đây là thời kỳ xuất hiện những trung tâm quyền lực đầu tiên, các hình thức tổ chức xã hội phức tạp và những bước tiến vượt bậc về kỹ thuật luyện kim. Trong số các nền văn hóa khảo cổ thuộc giai đoạn này, Văn hóa Nhị Lý Đầu (二里头文化) được xem là cột mốc đánh dấu sự khởi đầu của thời đại Đồ Đồng ở khu vực Trung Nguyên và là nền tảng cho sự hình thành các nhà nước sơ khai tại Trung Quốc.
Nét chạm tinh trên nền đá Đại Việt
Có tỉ mỉ chi tiết, có khoáng đạt bay bổng, nghệ thuật điêu khắc sử dụng chất liệu đá của các vương triều Đại Việt để lại nhiều di sản nổi bật thể hiện trên linh thú, kiến trúc, mảng trang trí nơi kinh thành, chùa miếu, lăng tẩm. Mỗi thời kỳ, ngôn ngữ điêu khắc đều biểu hiện phong cách riêng, đẹp kỳ diệu qua năm tháng.
Thú chơi đồ sơn son thếp vàng
Trong không gian sống của các gia đình danh gia vọng tộc và những dòng họ khoa bảng xưa, các tác phẩm hoành phi, cuốn thư, câu đối hay bình phong sơn son thếp vàng luôn giữ vị trí trang trọng, vừa là biểu tượng của gia phong, học vấn, vừa thể hiện địa vị và thẩm mỹ của chủ nhân. Những hiện vật này không chỉ hiện diện trong từ đường, phòng khách mà còn được chế tác để ghi dấu những sự kiện trọng đại như tân gia, nhậm chức, đón sắc phong hoặc những dịp vinh hiển của gia tộc.
Kỹ nghệ bạc cung đình triều Nguyễn
Vào thời Nguyễn (1802 – 1945) nghệ thuật chế tác bạc cũng rất được chú trọng nhằm phục vụ nghi lễ triều đình và đồ nhật dụng hoàng gia. Từng sản phẩm khi hoàn thiện đều là tuyệt tác kỹ nghệ.
Văn hóa Đông Sơn - Chiến tranh và Hòa bình : Thêm những bí ẩn về kiếm Đông Sơn
Năm 2004, tôi dẫn đoàn chuyên gia khảo cổ Đại học Quốc gia Úc đang cùng tôi khai quật hai khu mộ táng Đông Sơn ở Động Xá (Hưng Yên) và Yên Bắc (Hà Nam, nay là Ninh Bình) về Thanh Hóa tham dự Hội nghị kỷ niệm 80 năm phát hiện và nghiên cứu Văn hóa Đông Sơn (1924 - 2004). Tôi có nhã ý mời các bạn ăn cơm tối ở nhà hàng Bảo tàng Rừng Trong Phố để tiện thể giới thiệu sưu tập đồ Đông Sơn của chủ nhân…
Những mảng chạm linh thú trong đình làng Việt
Trong không gian làng cổ Việt, đình luôn là công trình kiến trúc vĩ đại – bề thế, vị trí đắc địa, đẹp nhất làng. Chi tiết trang trí kiến trúc cho đình cũng mang vẻ đẹp tương xứng, là nghệ thuật độc đáo chỉ có ở đình làng. Các mảng trang trí thường gửi gắm khát vọng, ước mong của con người bản địa, thông qua nhiều hình tượng khác biệt, trong đó linh thú là cụm đề tài được ưa thích sử dụng.