Tư vấn thẩm định cổ vật

Trang chủ / Kiến thức Sưu tầm / Khái luận về kỹ pháp “Hỗn thủy” trong thanh hoa

Khái Luận Về Kỹ Pháp “Hỗn Thủy” Trong Thanh Hoa

“Hỗn thủy” (混水) là một kỹ pháp đặc thù trong công nghệ hội họa thanh hoa tại Cảnh Đức Trấn. Hiện nay, theo những tài liệu mà người viết được biết, các cách giải thích về “hỗn thủy” đều chưa thực sự chuẩn xác, giản minh và rõ ràng. Những năm gần đây, trong các bài viết bàn về đồ sứ thanh hoa cổ, thỉnh thoảng xuất hiện quan điểm cho rằng kỹ pháp hỗn thủy bắt đầu có từ thời Thành Hóa; quan điểm này lại được nhiều người dẫn lại, nên lưu truyền khá rộng. Trong lịch sử thanh hoa Cảnh Đức Trấn, hỗn thủy là một cải tiến công nghệ có ý nghĩa trọng đại. Việc làm rõ nội hàm của hỗn thủy, đồng thời khảo sát quá trình diễn biến và hình thành của kỹ pháp này, có giá trị học thuật quan trọng. Xoay quanh vấn đề ấy, người viết tiến hành quan sát và phân tích từ hình thái công cụ, phương pháp chế tác, thao tác và hiệu quả của kỹ pháp hỗn thủy hiện đại; đồng thời đối chiếu đặc trưng hội họa thanh hoa trước và sau thời điểm thuật ngữ “hỗn thủy” xuất hiện, qua đó thử đưa ra một khảo luận bước đầu.

I. Thế nào là “Hỗn thủy”

(1) Ba giai đoạn của công nghệ hội họa thanh hoa qua các thời kỳ

  Trước hết, hãy nhìn lại quỹ đạo biến đổi và phát triển của công nghệ hội họa thanh hoa Cảnh Đức Trấn. Về đại thể có thể chia thành ba giai đoạn: thứ nhất, từ thời Nguyên đến niên hiệu Thiên Thuận nhà Minh là “câu tuyến — thác mạt” (钩线—拓抹: viền nét — thác miết); thứ hai, từ Thành Hóa đến Chính Đức nhà Minh là “câu tuyến — nhân nhiễm” (钩线—洇染: viền nét — loang nhuộm); thứ ba, từ Gia Tĩnh nhà Minh đến hiện đại là “câu tuyến — hỗn thủy” (钩线—混水: viền nét — hỗn thủy). Kỹ pháp hội họa của giai đoạn thứ nhất đã thất truyền từ lâu. Mãi đến đầu thập niên 1980, các nhà nghiên cứu gốm sứ cổ thuộc Bảo tàng Gốm sứ Cảnh Đức Trấn, thông qua việc phân tích hoa văn trên cổ sứ, đối chiếu phục chế và nhiều lần thực nghiệm, mới đạt được hiệu quả nghệ thuật gần như có thể dĩ giả loạn chân, từ đó giải mã và nắm bắt được công nghệ hội họa thanh hoa thời Nguyên và đầu Minh. Ở giai đoạn cuối của thời kỳ thứ nhất (Chính Thống, Cảnh Thái, Thiên Thuận), khi điền màu, người thợ dùng bút tích no đẫm liệu thủy để “thác mạt” trên từng mảng, tạo hiệu quả phẳng đều, trong sáng. Sang giai đoạn thứ hai, từ cơ sở đó, kỹ pháp “nhân nhiễm” được dùng thay cho “thác mạt”. Đến giai đoạn thứ ba, sách 《Giang Tây Đại Chí · Đào Thư》 thời Gia Tĩnh đã ghi chép về kỹ thuật hội họa thanh hoa của quan diêu đương thời: “Thượng thanh dùng để hỗn thủy thì màu sắc trong sáng.” Đây là ghi chép sớm nhất về thuật ngữ “hỗn thủy” được phát hiện trong tư liệu văn hiến cho đến nay.

 

(2) Thế nào là “Hỗn thủy”

  Hiện nay, cách giải thích về “hỗn thủy” có ảnh hưởng rộng nhất là trong 《Giản minh Đào từ Từ điển》 (Uông Khánh Chính chủ biên, Nhà xuất bản Từ thư Thượng Hải): “Hỗn thủy, cũng gọi là ‘phân thủy’. Một trong những kỹ pháp thao tác thanh hoa. Trong phần giới hạn bởi đường viền đã câu sẵn, dùng thanh liệu có hàm lượng nước 82–96% để điền màu, gọi là hỗn thủy. Khi hỗn thủy, dùng bút hút đầy liệu thủy rồi căn cứ theo đường viền đã vẽ để điền màu; màu sắc có đậm nhạt, liệu thủy cũng có nồng độ khác nhau.” Nói ngắn gọn, đoạn này cho rằng hỗn thủy là dùng bút hút đầy liệu thủy để điền màu. Tuy nhiên, cách giải thích ấy chưa nêu được tính đặc thù của hỗn thủy, đồng thời còn có chỗ dễ gây nhầm lẫn.

  Các ghi chép thời Gia Tĩnh về tính chất, tỷ lệ phối liệu và đặc trưng phát sắc của các loại thanh liệu dùng trong quan diêu đều có liên quan đến hỗn thủy. Đương thời có các loại thanh liệu như Hồi thanh (回青), Thạch thanh (石青)... Hồi thanh có đặc tính sắc tán mà không tụ; Thạch thanh có sắc trầm mà không sáng. Phối hai loại thanh liệu có tính chất khác nhau này theo tỷ lệ nhất định để tạo thành Trung thanh (中青) và Thượng thanh (上青), lần lượt dùng cho thiết sắc và hỗn thủy, sẽ đạt được hiệu quả rất tốt. “Trung thanh dùng để thiết sắc thì bút lộ phân minh; Thượng thanh dùng để hỗn thủy thì màu sắc trong sáng.” “Thiết sắc” tức là trước sắc, nghĩa là căn cứ theo phấn bản trên thai mộc, dùng Trung thanh để câu tuyến, miêu tả hoa văn. Do Trung thanh chứa tỷ lệ Thạch thanh có tính “sắc trầm” tương đối cao nên “bút lộ phân minh”, tức đường nét rõ ràng, không bị loang tán. 《Chu Lễ · Khảo Công Ký》 viết: “Công việc thiết sắc gồm họa, hội, chung, khuông, cân hoang.” Hỗn thủy tức là điền màu, cũng có thể gọi là nhiễm sắc. 《Đào Dã Đồ Thuyết · Viên Khí Thanh Hoa》 thời Càn Long nhà Thanh viết: “Người họa chỉ học họa mà không học nhiễm; người nhiễm chỉ học nhiễm mà không học họa.” “Thiết sắc” và “hỗn thủy” ở đây tương ứng với “họa” và “nhiễm”, cũng chính là “câu tuyến” và “hỗn thủy” trong kỹ thuật hội họa thanh hoa hiện đại.

  Vì sao kỹ thuật điền màu thanh hoa quan diêu thời Gia Tĩnh lại được gọi là “hỗn thủy”? 《Giang Tây Đại Chí》 không ghi chép cụ thể kỹ pháp điền màu đặc thù này, vì vậy cần từ kỹ pháp cận đại truy nguyên về cổ đại để nhận thức. Kỹ thuật hỗn thủy truyền thống còn được kế thừa đến ngày nay bắt buộc phải sử dụng loại “bút hỗn thủy” chuyên dụng (Hình 1).

 

Hình dáng bút giống đầu gà nên tục gọi là “kê đầu bút” (鸡头笔). Bụng bút lớn, khả năng tích thủy cao; ngòi bút ngắn, nhọn và lệch về một phía. Khi cầm cán bút theo tư thế nghiêng, ngòi bút vừa vặn chúc xuống, thuận tiện cho việc dẫn dòng liệu thủy. Một đầu cán bút được chẻ thành hình chữ thập để cố định đầu bút. Kỹ pháp hỗn thủy hiện đại như sau: trước hết pha sẵn thanh liệu thủy ở một nồng độ nhất định, khuấy đều rồi nhúng bút hỗn thủy vào, cho bút ngậm đầy liệu thủy và nhấc lên. Chờ đến khi liệu thủy trong bút chảy xuống thành trạng thái giọt thì bắt đầu nhuộm điền màu; khi đặt bút chỉ khẽ chạm vào thai mộc, dùng đầu bút dẫn dòng liệu thủy đang ở trạng thái “muốn nhỏ mà chưa nhỏ” chảy vào phần hoa văn (như Hình 2).

Khi lượng nước trong bút giảm dần, tốc độ dòng chảy chậm lại, các ngón tay cầm bút có thể gia lực tại phần cán chẻ, ép liệu thủy tiếp tục chảy xuống, khiến đầu bút liên tục dẫn liệu thủy để điền màu. Khi thu bút, dùng cạnh bút hút sạch lượng liệu thủy tích tụ trên thai. Toàn bộ quá trình vận bút phải nhất khí a thành, không được tô bồi lặp lại. Trong suốt quá trình điền nhiễm phải luôn bảo đảm lượng liệu thủy đầy đủ, để trên hoa văn duy trì một lớp liệu thủy đồng đều, sung mãn nhưng vừa phải, thẩm thấu vào thai mộc. Hiệu quả nghệ thuật của hỗn thủy hiện đại về cơ bản tương đồng với thời Gia Tĩnh, vì vậy người viết suy đoán kỹ pháp hỗn thủy hiện đại là sự truyền thừa liên tục từ thời Gia Tĩnh. Mặc dù đầu Thanh từng xuất hiện những tuyệt kỹ cao siêu và phức tạp hơn, hiệu quả nghệ thuật cũng phong phú hơn, nhưng kỹ pháp cơ bản của hỗn thủy Gia Tĩnh vẫn không thay đổi, cùng một mạch truyền thừa cho đến nay (xem bài của người viết: 《Thử phân tích “tuyệt kỹ” hội họa thanh hoa Khang Hy》).

  Người viết nhiều lần đến thăm “Thịnh Ký Bút Trang” (盛记笔庄), cơ sở nhiều đời chuyên chế tác bút dùng cho nghề sứ. Các nghệ nhân cao tuổi hồi tưởng rằng trong gần một trăm năm qua, nguyên liệu, công nghệ chế tác và hình chế của bút dùng cho sứ (bao gồm bút hỗn thủy) hầu như không có thay đổi; truy nguyên lên hai triều Minh, Thanh về cơ bản cũng như vậy. Người viết cũng từng thấy bút hỗn thủy từ những năm 1920–1930, hoàn toàn giống loại bút hiện nay. Từ đó có thể bước đầu suy đoán rằng hình chế của bút hỗn thủy hiện đại đã được tiếp nối từ thời Gia Tĩnh.

  《Thuyết Văn》 viết: “Hỗn, phong lưu dã” (混,丰流也), tức chỉ thế nước dồi dào, sung mãn. Chữ “hỗn” trong “hỗn thủy” thanh hoa vốn là tính từ nhưng được dùng như động từ, khái quát một cách sinh động và truyền thần toàn bộ quá trình thao tác của kỹ nghệ đặc thù này. Từ đó có thể đi đến kết luận: hỗn thủy thanh hoa là kỹ pháp sử dụng dòng thanh liệu thủy dồi dào, liên tục không ngừng, nhuộm phủ một cách phẳng đều lên phần thai có hoa văn bạch miêu. Do lượng nước phải sung mãn và cần nhuộm đều trên diện tích lớn nên bắt buộc phải có loại bút hỗn thủy đặc chế cùng kỹ pháp tương ứng. Nói cách khác, chỉ khi sử dụng bút hỗn thủy và thực hiện kỹ pháp đặc thù “dẫn thủy điền sắc” mới có thể gọi đúng nghĩa là “hỗn thủy”.

  Về cách gọi “phân thủy” (分水). Khoảng những năm 1950–1960, thuật ngữ “phân thủy” bắt đầu xuất hiện. Sự xuất hiện của cách gọi này không có lời giải thích cụ thể. Người viết suy đoán nguyên nhân như sau: Thứ nhất, hoa văn thanh hoa quan diêu Gia Tĩnh phần lớn chỉ hỗn thủy theo một sắc giai, như “vân long văn” (Hình 3).

Cũng có những hoa văn có mảng điền màu lớn, miêu tả tinh tế, sử dụng hỗn thủy hai sắc giai đậm – nhạt, như “hải mã văn”. Đến cuối Minh đầu Thanh còn xuất hiện hỗn thủy nhiều sắc giai, đều sử dụng liệu thủy có nồng độ đậm nhạt khác nhau để phân chia tầng thứ của hoa văn. Thứ hai, nghĩa gốc “phong lưu” của chữ “hỗn” trong tiếng Hán hiện đại đã không còn được sử dụng; thông thường “hỗn” chỉ còn mang những nghĩa như pha trộn, đánh tráo, làm bừa... (《Từ điển Hán ngữ Hiện đại》, bản 1986). Nếu hiểu “hỗn thủy” theo những nghĩa này thì hoàn toàn mâu thuẫn với kỹ pháp thao tác thực tế. Trong phương ngữ Cảnh Đức Trấn, hai chữ “phân” và “hỗn” lại có cách đọc gần như đồng âm, chỉ khác đôi chút về thanh điệu. Vì vậy, khi ghi lại thuật ngữ “hỗn thủy”, dùng chữ “phân thủy” dường như thông tục, dễ hiểu, trực quan và hợp lý hơn, nên dễ được mọi người tiếp nhận. Do đó, “phân thủy” dần thay thế “hỗn thủy” và được sử dụng rộng rãi (bản thân người viết trước đây cũng từng thuận theo cách gọi thông tục mà dùng “phân thủy”). Tuy nhiên, chỉ khi thực sự hiểu nghĩa gốc của chữ “hỗn” và thông thạo kỹ pháp hỗn thủy mới nhận ra tính chính xác của tên gọi “hỗn thủy”; còn “phân thủy” thực chất là một cách giải thích mang tính gán ghép.

  Về người đặt tên “hỗn thủy”. Cũng giống các thời kỳ khác, quy trình hội họa tại quan diêu Gia Tĩnh có tổ chức hơn dân diêu, hình họa quy chỉnh và điền màu đều sạch hơn. Khi đặt tên cho một kỹ pháp điền màu mới, tên gọi phải làm nổi bật tính mới mẻ và đặc thù của kỹ thuật. Vì vậy, người đặt tên hẳn phải vừa cực kỳ am hiểu kỹ pháp này, vừa có trình độ văn tự học sâu. Việc có thể từ 9.353 chữ trong 《Thuyết Văn》 chọn ra đúng chữ “hỗn” cho thấy người đặt tên chắc chắn không phải một thợ thủ công dân gian thông thường, mà nhiều khả năng là người quản lý Ngự diêu xưởng thời Gia Tĩnh.

 

II. Quá trình diễn biến từ “nhân nhiễm” đến “hỗn thủy”

  Về công nghệ hội họa thanh hoa giai đoạn Thành Hóa đến Chính Đức, có tác giả từng viết: “Thanh hoa Thành Hóa điển hình đã thay đổi phương pháp thời Tuyên Đức vốn dùng một cây bút để trước sắc, tạo tầng thứ và khoảng lưu bạch; chuyển sang dùng song câu tuyến rồi một bút tô phủ để lên màu” (Lời nói đầu 《Thanh Hoa Dứu Lý Hồng》, Bảo tàng Thượng Hải, Nhà xuất bản Lưỡng Mộc). Một trong những đặc trưng của khí vật Chính Đức điển hình là: “Hoa văn thanh hoa đều song câu điền sắc, dùng bút dài bình đồ, không thấy cảm giác bút xúc, không lưu bạch” (như trên). Có lẽ tác giả chưa thực sự am hiểu kỹ thuật hội họa thanh hoa nên đoạn văn này vừa khó hiểu vừa có chỗ sai lệch. Trong hội họa thời Tuyên Đức, lấy việc vẽ lá làm ví dụ, trước hết song câu đường viền phiến lá, sau đó thác mạt thanh liệu đậm ở hai bên lá, rồi dùng bút không chứa (hoặc chỉ chứa rất ít) thanh liệu, hơi chấm nước sạch (hoặc thanh liệu thủy nhạt) để tẩy nhiễm, chuyển dần từ đậm sang nhạt về phía giữa lá (vị trí vẽ gân lá), cuối cùng dùng thanh liệu đậm câu họa đường gân, tạo cảm giác lập thể do ánh sáng chiếu lên phiến lá. Trong quá trình tẩy nhiễm, bút nước làm nhạt phần thanh liệu đã thác mạt, để lại trên thai những bút xúc đậm nhạt xen kẽ; nhiều người đã nhầm những dấu bút này với “tầng thứ” màu.

  Từ Thành Hóa trở đi (bao gồm Chính Đức), toàn bộ đường nét của hoa văn được câu họa hoàn chỉnh trước rồi mới điền màu. Nếu dùng phương pháp “đồ mạt” hoặc “bình đồ” để điền màu, đầu bút khi “tô” qua thai sẽ chạm vào các đường nét — chẳng hạn đường thanh liệu vẽ gân lá có độ nổi nhất định trên thai — khiến đường nét trở nên mờ nhòe, mất độ rõ. Tuy nhiên, các khí vật quan diêu truyền thế của giai đoạn này đều không xuất hiện hiện tượng ấy, vì vậy có thể khẳng định không phải dùng cách bôi quét thanh liệu để điền màu. Người viết trước đây từng đề xuất rằng từ Thành Hóa đến Chính Đức sử dụng kỹ pháp “nhân nhiễm” để điền màu. Những năm gần đây lại xuất hiện quan điểm cho rằng hỗn thủy bắt đầu từ Thành Hóa. Quả thực, nhân nhiễm và hỗn thủy có một số điểm tương tự; hơn nữa, việc hiện chưa thấy văn hiến trước Gia Tĩnh ghi chép về hỗn thủy cũng không đủ để phủ định khả năng kỹ pháp này từng tồn tại. Chỉ thông qua đối chiếu, phân tích những điểm giống và khác nhau giữa nhân nhiễm và hỗn thủy mới có thể phân biệt hai kỹ thuật, từ đó đi đến kết luận rằng trước Gia Tĩnh chưa có kỹ pháp hỗn thủy.

(1) Những điểm tương đồng giữa nhân nhiễm và hỗn thủy

  1. Quy trình hội họa giống nhau. Cả nhân nhiễm lẫn hỗn thủy đều tiến hành điền màu sau khi toàn bộ đường nét hoa văn đã được miêu tả hoàn chỉnh.

  2. Quan niệm điền màu và hiệu quả nghệ thuật tương tự. Cả hai đều phải pha sẵn thanh liệu thủy ở một nồng độ nhất định (có một hoặc hai sắc giai), sau đó dùng đầu bút dẫn liệu thủy nhuộm vào hoa văn. Đầu bút không được làm động đến đường nét hoa văn; liệu thủy thấm vào thai, khiến toàn bộ hoa văn có sắc độ đậm nhạt nhất quán, phẳng đều và thanh trừng. Xét về nguyên lý cơ bản của việc điền màu, nhân nhiễm và hỗn thủy có thể xem là tương đồng.

(2) Những điểm khác biệt giữa nhân nhiễm và hỗn thủy

  1. Công cụ khác nhau. Khí hình thời Thành Hóa nhỏ nhắn, tinh xảo; bố cục trang trí sơ lãng; hình thái hoa văn tinh tế, nhu tú, vì vậy các mảng cần điền màu tương đối nhỏ. Nói chung chỉ cần dùng bút lông dê thông thường, ngậm một lượng thanh liệu thủy nhất định là có thể nhân nhiễm điền màu. Thanh hoa quan diêu Hoằng Trị và Chính Đức tiếp tục phong cách trang trí tinh tế, tú lệ của Thành Hóa; việc kế thừa công cụ và kỹ pháp hội họa Thành Hóa là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên sự tiếp nối ấy. Đến Gia Tĩnh, xu hướng đại hình hóa khí vật quan diêu phát triển nhanh chóng. Trong đồ truyền thế hiện còn có đại bàn đường kính miệng 76,8 cm, đại oản đường kính 37,5 cm, đại quán cao 41 cm... Các mảng hoa văn cần điền màu theo đó cũng tăng đáng kể; phương pháp dùng tiểu bút nhân nhiễm hoàn toàn không thể đáp ứng, vì vậy bút hỗn thủy thích hợp với việc điền những mảng lớn cũng theo đó xuất hiện.

  Xét thêm ở dân diêu: khí vật “chiết chi mẫu đơn văn” (Hình 5), đáy đề “Chính Đức niên tạo”, dùng nét mảnh câu họa khá phóng suất, sau đó nhiễm thanh liệu thủy nhạt; sắc điệu thanh trừng, chứng tỏ lượng nước khi điền màu tương đối đầy đủ. Một số lá nhỏ còn để lại hai, ba vết tích liệu, tức đã dùng hai, ba bút để hoàn thành điền màu. Ngoài ra còn có những tiểu bút xúc sắc nhọn vượt ra ngoài đường viền, cho thấy đã dùng tiểu bút nhân nhiễm; khi thao tác nhanh, hiện tượng này có phần tương tự thác mạt. Từ đó có thể suy đoán rằng công cụ và kỹ pháp điền màu của dân diêu Chính Đức về cơ bản giống quan diêu cùng thời. Khí vật “chiết chi cúc hoa văn” (Hình 6), đáy đề “Đại Minh Gia Tĩnh niên tạo”, có bố cục tương tự hình trên; hoa lá chỉ dùng một sắc điệu, bút xúc điền màu tròn đầy, màu sắc sung mãn, sắc điệu trầm uất nhưng đều sạch, trong sáng, không thấy rõ dấu bút tích liệu. Đây là hiệu quả đạt được khi dùng bút tương đối lớn, ngậm lượng liệu thủy sung mãn để điền màu. Thời Gia Tĩnh xuất hiện chế độ “quan đáp dân thiêu” (官搭民烧), nên các công cụ và kỹ pháp hội họa mới của quan diêu hẳn đã được vận dụng sang dân diêu. Khi quan diêu đã sử dụng hỗn thủy trong công đoạn điền màu thì công cụ điền màu trên hoa văn của khí vật dân diêu này cũng phải là bút hỗn thủy.


 

  2. Kỹ pháp có khác biệt. Thai mộc có tính hút nước mạnh; khi điền màu, chỉ cần đầu bút hơi ngưng lại, thai sẽ hút liệu thủy và để lại dấu tích liệu. Khi sử dụng nhân nhiễm trên một mảng hoa văn tương đối lớn, từ khởi bút đến thu bút phải nhiều lần chấm thêm liệu thủy mới hoàn thành; mỗi lần thu bút ít nhiều đều để lại dấu tích liệu. Chẳng hạn “liên hoa văn” Chính Đức (Hình 7) có thể thấy nhiều chấm tròn nhỏ có liệu sắc hơi đậm, đồng thời còn có những tiểu bút xúc thận trọng né chừa phần biên trắng của cánh hoa. Hỗn thủy thì có thể nhất khí a thành điền đầy một mảng lớn, số lần khởi bút và thu bút ít hơn, vì vậy dấu tích liệu tương ứng cũng ít hơn; thường chỉ còn những thủy ấn mờ nhạt, tương tự vệt mực nhạt loang trên giấy tuyên sống. Ví dụ “Tùng Trúc Mai văn” Gia Tĩnh (Hình 8) chỉ thấy thưa thớt một số dấu tích liệu, còn các thủy ấn nhạt hòa trong lớp liệu sắc phẳng đều, thanh trừng, tạo thành một vận vị tự nhiên.


 

  Đường nét câu lặc bằng thanh liệu có độ nổi nhất định trên thai, nhờ đó có tác dụng ngăn liệu thủy điền màu tràn ra ngoài. Khi dùng tiểu bút xúc nhân nhiễm, lượng nước nhỏ, khả năng khống chế nước của bút tốt hơn, do đó ngay tại những vị trí không có đường viền vẫn có thể biểu hiện được hình thái nhất định. Chẳng hạn hoa văn Chính Đức (xem Hình 7) có thể lưu lại một dải biên trắng sát đường viền. So với kỹ pháp này, bút hỗn thủy chứa lượng nước lớn, việc khống chế dòng liệu thủy ở đầu bút khó hơn; vì vậy những hoa văn thiết kế theo một sắc điệu thông thường không chừa biên trắng. Với hoa văn có hai sắc đậm – nhạt, thông thường phải dùng đường nét phân cách rồi hỗn thủy riêng từng phần. Ví dụ hoa văn Gia Tĩnh (xem Hình 4), vị trí lưu biên trắng của sóng nước có đường tuyến ngăn cách. Tuy nhiên, đôi khi cũng có trường hợp không dùng đường nét phân cách. Chẳng hạn “Khổng tước Mẫu đơn văn” Gia Tĩnh (Hình 9), cánh sen có hai lớp trong ngoài, lần lượt điền hai sắc đậm nhạt. Mép lá dùng sắc đậm, phần giữa dùng sắc nhạt; vì giữa hai sắc không có đường tuyến phân cách nên dòng liệu thủy khó khống chế, dẫn đến dải màu đậm rộng hẹp không đều.

  Hoa văn quan diêu từ Thành Hóa đến Chính Đức phần lớn có hình thái mềm mảnh, dạng dải hoặc mảng nhỏ. Khi nhân nhiễm, đầu bút đi đến đâu thì liệu thủy đã thấm xuống đến đó; thai chỉ cần duy trì trạng thái nằm ngang và tĩnh. Nói cách khác, trong quá trình điền lần lượt từng bộ phận, thai ở trạng thái tĩnh gián đoạn tương ứng. Đối với nhiều thai khí có thể cầm đỡ bằng tay, khi hỗn thủy, nơi đầu bút đi qua, liệu thủy vừa thấm xuống vừa có xu hướng tràn lan ra bốn phía; vì vậy mặt cong của thai phải liên tục được điều chỉnh để duy trì trạng thái tương đối ngang theo dòng nước. Tức là tay trái đỡ thai, không ngừng điều chỉnh góc độ và phương vị nhằm tạo mặt bằng tương đối thích hợp với thao tác hỗn thủy. Do đó, hỗn thủy đòi hỏi sự phối hợp tinh tế và ăn ý giữa hai tay. Đặc điểm này không thể quan sát trực tiếp trên hiện vật, nhưng lại là một trong những yếu quyết của kỹ pháp hỗn thủy.


  3. Đặc sắc rõ rệt. Hỗn thủy có thể nhuộm phẳng đều các mảng hoa văn lớn với nhiều hình thái khác nhau, tạo hiệu quả trang trí mang tính bình diện và cân bằng. Kỹ pháp này được sử dụng rộng rãi trong các đề tài nhân vật, hoa điểu, sơn thủy cùng nhiều dạng thức hoa văn khác nhau. Chẳng hạn “Lô Nhạn đồ” Gia Tĩnh, kỹ pháp hỗn thủy làm nổi bật đặc trưng thanh lãng: hình tượng chim nhạn bên lau sậy sinh động, tả thực; pha thạch và thủy ba được xử lý tinh luyện, khái quát nhưng quy phạm, hợp thành một bức trang trí ưu mỹ, tĩnh nhã. Ngoài ra còn có “Anh hí đồ”, “Vân long văn”, “Vân hạc văn”; các mảng sắc kiểu tiễn ảnh có sắc điệu giản khiết, minh trừng, tương phản thanh – bạch mạnh; hình thái hoa văn biến hóa, cao thấp xen kẽ, nhường tránh lẫn nhau nhưng vẫn điều hòa thống nhất. Trong đó hỗn thủy giữ vai trò rất lớn. Với tư cách một kỹ pháp điền màu, hỗn thủy có hiệu quả nghệ thuật vượt trội hơn nhân nhiễm.


 

  Ngoài ra, đồ phỏng cổ của quan diêu Gia Tĩnh cũng có những đặc sắc riêng. Chẳng hạn “Thanh địa Bạch long văn” mô phỏng đặc trưng trang trí thời Vĩnh Lạc. Xét về ý tưởng và sáng tạo, đồ phỏng khó có thể sánh với nguyên tác. Tuy nhiên, khi công nghệ đã phát triển đến giai đoạn cao hơn, năng lực biểu hiện cũng phong phú hơn kỹ pháp thác mạt ở giai đoạn sơ kỳ. Phần thanh địa của hoa văn này có sắc điệu hỗn thủy đôn hậu, sung mãn, đồng thời lại theo đuổi ý vị mông lung, nồng nhạt hỗn dung do thác mạt tạo nên; đây có thể xem là một hiệu quả ngoài dự kiến. Khí vật dân diêu “Thanh địa Bạch long văn” ,( tàng tại Philippines, đáy có khoản “Đại Minh Gia Tĩnh niên tạo”) sử dụng kỹ pháp hỗn thủy thịnh hành đương thời; thanh liệu thủy dung dung, toàn diện thanh trừng, mang đặc trưng thời đại rõ rệt. Việc dùng hỗn thủy để nhiễm thanh địa cho thấy ưu thế khó có kỹ pháp nào sánh được.

  Đường nét hoa văn thanh hoa quan diêu Gia Tĩnh hơi thô hơn so với Thành Hóa, Hoằng Trị và Chính Đức; bút pháp cổ chuyết, giản suất. Liệu sắc nồng lệ được hỗn thủy (cũng có loại chia hai sắc giai đậm – nhạt) rồi nhuộm phẳng đều trên hoa văn, tạo hiệu quả trang trí bình diện tương tự hình tiễn ảnh. Thanh sắc và bạch dứu tương phản rõ ràng, minh khoái, giản khiết và cân bằng, hình thành phong cách thời đại hồn phác, đại khí. Hoa văn dân diêu về cơ bản có đặc trưng tương đồng với quan diêu, nhưng ở các phương diện như hình thái giản hóa hơn, bút pháp thô suất hơn, vận bút mau lẹ hơn và liệu sắc lâm ly hơn, những đặc điểm này biểu hiện ở các mức độ khác nhau nhưng thường rõ và nổi bật hơn.

 

III. Nguyên nhân hình thành và giá trị công nghệ của hỗn thủy

  Từ khi Ngự diêu xưởng được thiết lập vào triều Hồng Vũ nhà Minh, thanh hoa quan diêu các thời kỳ đều có chế tác quy chỉnh, trang trí tinh tế, trong đó công đoạn điền màu luôn phối hợp hài hòa với toàn bộ quy trình. Từ Thành Hóa đến Chính Đức, việc sử dụng nhân nhiễm với sắc điệu đều sạch để điền màu là một trong những nhân tố chủ yếu tạo nên phong cách thời đại giản minh, nhu lệ. Đến Gia Tĩnh, khí vật ngày càng đại hình hóa, sản lượng tăng cao, nên kỹ pháp tiểu bút nhân nhiễm hiển nhiên không còn đáp ứng được nhu cầu phát triển và biến đổi của thời đại. Trong khi đó, ở dân diêu từ trước đã tồn tại những kỹ pháp sáng tạo không câu nệ khuôn thức. Chẳng hạn “Hoa thạch Kỳ lân đồ” Hoằng Trị (Hình 15), đường kính miệng 31,8 cm; hoa quan của triền chi hoa trên thành trong tương đối lớn, lượng liệu thủy điền màu sung mãn, sắc điệu nhuận trạch, oánh lượng, đồng thời làm hòa tan một phần đường nét. Trên pha thạch ở lòng đĩa còn thấy rõ những bút tích tô quét ngang dọc; có lẽ đây là kết quả của việc tùy ý thác mạt khi lượng liệu thủy trong bút điền màu đã giảm. Từ những đặc trưng này có thể suy đoán các tình huống sau: thứ nhất, dùng bút tương đối lớn, no đẫm liệu thủy để nhân nhiễm một cách lâm ly; thứ hai, nhằm nâng cao hiệu suất lao động nên tăng tốc độ nhân nhiễm; thứ ba, nhân nhiễm và thác mạt được luân phiên sử dụng. Thanh hoa dân diêu Hoằng Trị có rất nhiều đặc trưng tương tự hiện vật này, đồng thời những đặc điểm ấy cũng xuất hiện trên thanh hoa dân diêu Chính Đức, cho thấy đây là hiện tượng khá phổ biến.

  Trong thực tiễn điền màu, điều quan trọng là phải duy trì hiệu quả phẳng đều của nhân nhiễm trên diện tích lớn mà không xuất hiện bút ngân do miết quét; để liệu thủy theo đầu bút chảy thành dòng nhỏ liên tục, tiến hành nhân nhiễm với tốc độ đều và không gián đoạn. Từ yêu cầu đó, loại đại bút thông thường dùng để nhân nhiễm trong dân diêu được cải tiến thành một loại bút đặc chế: bụng bút đặc biệt lớn (tích được nhiều nước), đầu bút nhọn và lệch sang một bên (vừa làm giảm tốc độ dòng chảy, vừa thuận tiện cho tư thế cầm cán bút nghiêng); kỹ pháp tương ứng cũng theo đó hình thành. Từ phương thức Thành Hóa–Chính Đức dùng tiểu bút, từng bút một, với lượng liệu thủy ít và nhân nhiễm gián đoạn, đã diễn biến thành hỗn thủy sử dụng lượng liệu thủy sung mãn và dòng chảy liên tục. Mặc dù quan niệm điền màu không thay đổi, nhưng đã xảy ra biến đổi về lượng: lượng liệu thủy nhiều hơn, diện tích mảng hoa văn cần điền lớn hơn, thời gian thao tác từ gián đoạn chuyển thành liên tục. Nhiều biến đổi về lượng như vậy đã thúc đẩy sự biến đổi về chất của công cụ và kỹ pháp, nhờ đó “nhân thủy” dần diễn biến thành “hỗn thủy”.

  Thanh hoa thời Nguyên đã mở ra một kỷ nguyên mới cho nghệ thuật hội họa dưới men tại Cảnh Đức Trấn. Sau đó, các thời Vĩnh Lạc, Tuyên Đức, Thành Hóa và Hoằng Trị đều có sở trường riêng. Tuy nhiên, xét từ góc độ công nghệ hội họa, trước Chính Đức, toàn bộ kỹ pháp điền màu chưa có tính độc đáo đặc biệt. Nói cách khác, người có kỹ năng hội họa nhất định, chỉ cần điều chỉnh thanh liệu và nước, lĩnh hội được cảm giác vận bút và dụng liệu trên thai là có thể bước đầu nắm được kỹ thuật điền màu bằng thác mạt và nhân nhiễm. Nhưng việc nắm vững và thực hành hỗn thủy lại có độ khó tương đối cao. Mặc dù hỗn thủy không tất yếu liên hệ với tu dưỡng nghệ thuật hay kỹ năng hội họa, song với tư cách là một kỹ pháp trọng yếu của trang trí thanh hoa, sự thành thục của hỗn thủy đánh dấu việc hội họa thanh hoa đã hình thành một ngôn ngữ nghệ thuật độc đáo. Tính chuyên biệt này phải trải qua cả quá trình: học tập — nắm bắt — thuần thục — tinh năng. Để nâng cao trình độ của kỹ nghệ ấy, đã hình thành sự phân công chuyên môn: “Người nhiễm chỉ học nhiễm mà không học họa.” Từ sau Gia Tĩnh, hỗn thủy trở thành một kỹ năng chuyên biệt và được truyền nối cho đến ngày nay.

  Quá trình diễn biến từ nhân nhiễm đến hỗn thủy làm nổi bật giá trị công nghệ của hội họa thanh hoa. Kỹ năng hỗn thủy đòi hỏi sự chuyên nghiệp hóa; khi trở thành một nghề chuyên biệt, hỗn thủy đã đưa công đoạn điền màu vốn thuộc phạm trù nghệ thuật vào một quy trình mang tính chương thức. Hiệu quả điền màu của hỗn thủy khiến hội họa thanh hoa có tính trang trí mạnh hơn. Đồng thời, hỗn thủy cũng có năng lực biểu hiện vô cùng phong phú; đến thời Khang Hy, những kỹ pháp thanh hoa biệt xuất tâm tài đã đưa hỗn thủy phát triển đến mức cực thịnh (người viết từng có chuyên luận riêng về vấn đề này). Nghệ vô chỉ cảnh; muốn có sáng tạo mới, cần không ngừng nỗ lực.

  《Giang Tây Đại Chí》 thời Gia Tĩnh đã lưu lại một tư liệu quý giá về “hỗn thủy”. “Có một phần chứng cứ thì nói một phần sự thực”; bởi vậy, người viết đem những chân tướng im lặng còn lưu lại trên các khí vật truyền thế tiến hành đối chiếu, phân tích và sắp xếp. Sau một quá trình thảo luận quanh co, cuối cùng cũng hệ thống hóa được phần nào, từ đó có thể nhận thức đại thể về hỗn thủy thanh hoa, quá trình diễn biến hình thành và giá trị công nghệ của nó. Điều khá thú vị là khi ban đầu nghiên cứu thanh hoa Nguyên, mọi người chỉ có khái niệm về hỗn thủy nên không hiểu rằng hoa văn thanh hoa Nguyên được tạo nên bằng kỹ pháp thác mạt thuộc giai đoạn sơ kỳ của công nghệ hội họa, bởi giới trong nghề khi ấy coi thác mạt là thủ pháp của người ngoại đạo. Nhưng không ai nghĩ rằng: vào lúc thanh hoa Nguyên mới hưng khởi, “hành gia” thì từ đâu mà có? Trong gần 20 năm trở lại đây, lối họa thanh hoa bằng kỹ pháp thác mạt chịu ảnh hưởng của quốc họa tả ý lại trở thành phong thượng của thời đại; trái lại, hỗn thủy dần bị giới hành gia xem là mang nặng “tượng khí” và ngày càng mai một. Có lẽ đây chính là một nghịch lý thú vị trong sự phát triển của nghệ thuật gốm sứ: “Phản giả, Đạo chi động” — sự vận động của Đạo là quay trở lại. Nhưng đó lại là một câu chuyện khác.

Tác giả: Tào Cán Nguyên (曹淦源)

(Biên tập: Vũ Lam)

Dịch và sưu tầm: Lão Cổ Vật

Để lại Đánh giá

Email của bạn sẽ được giữ kín, các trường cần điền sẽ đánh dấu *

Đánh giá*

Họ tên *

Email *

Tin liên quan

Chọn bài viết hiển thị
Xác Định Giá Trị Của Đồ Cổ

laocovat

Thứ Sáu, 14 Tháng Tám 2026

Xác Định Giá Trị Của Đồ Cổ
Đồ độc bản là gì?

laocovat

Thứ Sáu, 14 Tháng Tám 2026

Đồ độc bản là gì?
Tranh chữ PHÚC cỡ lớn
Chỉnh sửa ảnh liên kết