Tư vấn thẩm định cổ vật

Trang chủ / Kiến thức Sưu tầm / Phân biệt thật – giả đồ sứ qua cốt thai và men

Phân Biệt Thật – Giả Đồ Sứ Qua Cốt Thai Và Men

Đồ cổ do có giá trị không nhỏ nên thu hút sự quan tâm của rất nhiều người. Chính sự quan tâm của đông đảo mọi người đã tạo cơ hội để những kẻ làm giả lợi dụng. Vì vậy, bất kỳ việc giám định nào cũng phải lấy hiện vật thực tế làm chính; chỉ dựa vào mô tả bằng văn bản thì vĩnh viễn không thể giám định được thật – giả của món đồ sưu tầm.

Khuyến nghị những nhà sưu tầm khi có cơ hội nên thường xuyên thỉnh giáo các chuyên gia, những người có kinh nghiệm; đồng thời cũng có thể thường xuyên đến các bảo tàng tại địa phương để tham quan, học hỏi. Tốt nhất là có thể theo một số người có danh tiếng, trực tiếp cầm trên tay đồ thật, như vậy mới có thể học được nhiều điều hơn.

Bất kỳ việc giám định nào cũng đều phải lấy đồ thật làm tham chiếu, thông qua đối chiếu, so sánh lẫn nhau mới có thể nhanh chóng bước vào lĩnh vực này.

Nếu quý vị đang có món đồ sưu tầm muốn giám định hoặc chuyển nhượng, hoan nghênh gọi điện để được tư vấn; đồng thời cũng hoan nghênh các nhà sưu tầm cùng nhau trao đổi, thảo luận.

Gốm sứ Trung Quốc có lịch sử lâu đời, chủng loại phong phú, là kết tinh văn hóa của các triều đại Trung Quốc. Người yêu thích các tác phẩm nghệ thuật gốm sứ cổ không ít, nhưng người hiểu về giám định lại không nhiều. Tinh phẩm của các danh diêu qua các triều đại Trung Quốc liên tục xuất hiện, hơn nữa trong suốt những năm tháng dài đằng đẵng ấy cũng có rất nhiều sản phẩm phỏng chế xuất sắc. Ví dụ, năm danh diêu lớn thời Tống là Định, Nhữ, Quan, Ca và Quân, ngay vào thời đó đã có các lò ở những địa phương khác phỏng chế; tuy có phân biệt tinh và thô, nhưng cũng có thể thịnh hành trên đời. Đến các triều Nguyên, Minh, Thanh, phong trào phỏng chế đồ sứ cổ lại càng có tăng mà không có giảm. Có thể nói, đồ sứ phỏng cổ được chế tác trong suốt hàng nghìn năm gần như có thể bắt gặp ở khắp mọi nơi. Chỉ cần hơi sơ suất là rất dễ mắc sai lầm. Muốn giám định thật – giả của một món gốm sứ cổ, trước hết phải có hiểu biết về việc sản xuất gốm sứ ở các vùng khác nhau của Trung Quốc trong suốt hàng nghìn năm, có như vậy mới có thể đưa ra phán đoán chính xác.

Xét từ phương diện thai và men, do thời đại và khu vực khác nhau nên thành phần thai, men và phương pháp nung cũng ít nhiều có những khác biệt tương đối rõ rệt. Vì vậy, khi phân biệt đồ sứ cần phải quan sát kỹ những phương diện này.

Khi quan sát đồ sứ cổ, cần chú ý đến các đặc trưng như độ thô – mịn của chất men, độ mới – cũ của ánh men, cũng như kích thước và mật độ thưa – dày của bọt khí. Chẳng hạn, đối với đồ sứ cũ thường có cách gọi là “莹光 – huỳnh quang” hoặc “酥光 – tô quang”. Hai loại này trái ngược với cái gọi là “浮光 – phù quang” thường xuất hiện trên men đồ sứ mới, mà ẩn chứa một thứ ánh sáng óng nhuận như ngọc, như mỡ. Loại trước có ánh sáng phát ra từ bên trong, loại sau có ánh sáng lóe lên từ bên ngoài. Loại ánh men sâu dày, ôn nhuận này là do trải qua năm tháng lâu dài mà tự nhiên hình thành.

Đồ sứ mới thì phần nhiều có thứ “火光 – hỏa quang” sáng quắc, chói mắt, cũng chính là cái gọi là phù quang. Nhưng một số đồ phỏng sau khi trải qua các phương pháp xử lý như nấu bằng trà, xử lý bằng hồ, ngâm thuốc, chôn trong đất cũng có thể loại bỏ loại “hỏa quang” này.

Ngược lại, đồ sứ cũ từ trước đến nay được bảo quản cẩn thận cũng có thể không mất đi ánh men sáng mới của nó. Ví dụ, một số đồ sứ thuộc ba triều Khang Hy, Ung Chính và Càn Long chưa từng được mở niêm phong và được bảo tồn cho đến ngày nay, một khi mở thùng ra, ánh men vẫn rực rỡ như mới. Vì vậy, chỉ dựa vào một điểm “mất độ bóng” để làm bằng chứng cho niên đại lâu đời là không đáng tin cậy.

Khi quan sát chất men, cũng cần chú ý đến mức độ dày – mỏng của lớp men cũng như trạng thái co men, chảy men. Ví dụ, men đồ sứ lò Quân thời Tống phần nhiều có hiện tượng men tụ dày như mỡ; men đồ sứ lò Định phần nhiều có vết lệ; men của sứ thoát thai thời Minh – Thanh thậm chí mỏng như màng trứng hoặc óng sáng như ngọc. Những điều này đương nhiên đều là những đặc trưng đáng quý.

Tuy nhiên, đồ phỏng của các đời sau cũng có thể làm được đại thể gần giống. Vì vậy, chúng ta còn phải tham chiếu các đặc trưng ở những phương diện khác, đồng thời chú ý đến phía trong đồ vật, mép miệng, đáy chân và những vị trí khác.

Ví dụ, đối với men đỏ Lang diêu thời Khang Hy, có cách nói:

“脱口垂足郎不流” – “Thoát khẩu, thùy túc, Lang bất lưu.”

Loại men sứ này chủ yếu là men màu đỏ ruby đậm. Màu men ở mép miệng đồ vật tương đối nhạt, vì vậy gọi là “脱口 – thoát khẩu”; màu men ở phần đáy đồ vật đậm và rực rỡ, men phần nhiều tụ dày, gọi là “垂足 – thùy túc”; men tuy chảy xuống nhưng không tràn xuống đáy, gọi là “郎不流 – Lang bất lưu”.

Đặc trưng kỹ thuật này chính là điểm Lang diêu hồng khó phỏng chế nhất.

Việc phân biệt chất thai chủ yếu là quan sát đáy chân. Nói chung, đáy chân đồ sứ thời Nguyên phần nhiều để lộ thai, hơn nữa chất thai thô ráp; đồ sứ thời Minh, Thanh nếu có niên khoản thì phần đáy phần nhiều được phủ men, từ giữa triều Thanh trở về sau thì đồ để lộ thai dần ít đi. Nhưng bất kể đồ vật thuộc thời đại nào, tại mép vòng chân hoặc những chỗ ở mép miệng để lộ thai, phần lớn đều có thể nhìn ra đặc trưng của quá trình nung.

Ví dụ, thai sứ thời Nguyên phần nhiều thô ráp, ráp tay và ánh sắc hỏa thạch hồng; đồ sứ thời Minh, Thanh thì tương đối trắng sạch, mịn, rất ít chứa tạp chất, không nhìn thấy sắc hỏa thạch hồng. Điều này chủ yếu là kết quả của sự thay đổi về chất lượng của bản thân nguyên liệu, cũng như do sự khác biệt về phương pháp chế tác và mức độ nung tạo nên. Từ đó cũng tự nhiên hình thành một ranh giới giữa sớm và muộn, thật và giả.

Tóm lại, khi phân biệt thai và men, vừa phải dùng mắt để phân biệt màu sắc, độ dày mỏng, đường rạn, bọt khí; vừa phải dùng tay sờ để phân biệt độ thô mịn, dùng ngón tay gõ để kiểm tra âm thanh. Nhất thiết phải kết hợp cả tai, mắt và tay.

Nói chung, từ chất thai và màu men có thể nhìn ra niên đại và lò nung của nó. Ví dụ, đồ sứ men xanh thời Thương – Chu cách nay 4.000 năm, còn gọi là thanh từ nguyên thủy, là giai đoạn sơ cấp của thanh từ; thai của nó có màu xám trắng và nâu xám, chất thai cứng, mức độ sứ hóa tương đối cao; màu men xanh, lớp men tương đối mỏng, độ dày mỏng không đồng đều. Điều này là do vào thời điểm đó sử dụng phương pháp rưới men để tiến hành phủ men.

Màu men thời Ngũ Đại là màu thiên thanh. Theo truyền thuyết, Hậu Chu Thế Tông Sài Vinh thời Ngũ Đại chỉ vào bầu trời sau cơn mưa vừa quang, nói với viên quan đến xin chỉ thị về màu men của đồ sứ ngự dụng rằng: “Mưa qua trời xanh, nơi mây tan, hãy làm ra màu sắc như thế này.” Vì vậy, men sứ thời Ngũ Đại được khâm định là màu thiên thanh. Loại men này có màu men óng nhuận, phủ men tương đối mỏng, trong sắc xanh ánh lên một chút màu lam nhạt.

Men Mai tử thanh của lò Long Tuyền thời Tống. Đây là màu đẹp nhất của Long Tuyền thời Tống, là tác phẩm tiêu biểu trong các loại men xanh. Màu sắc của nó có thể sánh với phỉ thúy cao cấp. Lớp men tương đối dày, bề mặt men sáng bóng, mức độ thủy tinh hóa cao, bề mặt men không có đường rạn, chất men óng như ngọc, màu sắc gần giống với “quả mơ” mọc trên cây mơ.

Thai và men của đồ sứ Giang Tây vào các thời Vĩnh Lạc, Tuyên Đức triều Minh và Khang Hy triều Thanh đều có những đặc điểm riêng. Thời Vĩnh Lạc, men trắng nổi danh nhất, chất men dày đầy, óng nhuận như mỡ tụ, trắng thuần như ngọc, bề mặt men sáng sạch, trong óng; màu thai trắng thuần, chất thai mịn, đồng thời có hiện tượng dày mỏng không đồng đều. Nếu soi dưới ánh sáng mạnh, có thể nhìn thấy thai và men có xu hướng hiện màu hồng phấn, đỏ thịt hoặc đỏ tôm. Đặc trưng này không có ở những loại đồ sứ khác.

Vào niên hiệu Tuyên Đức thời Minh, tuy thời gian rất gần với niên hiệu Vĩnh Lạc thời Minh, nhưng màu sắc thai và men của đồ sứ lại hoàn toàn khác nhau. Cùng một loại đồ vật, thai Vĩnh Lạc dày, thai Tuyên Đức mỏng. Vào thời Tuyên Đức, phần đáy của những món trác khí (琢器) cỡ lớn phần nhiều không có men, những chỗ lộ thai thường có các điểm màu đỏ, tục gọi là “hỏa thạch hồng ban” (火石红斑), ngoài ra còn có những đốm gỉ sắt. Đồ sứ phỏng Tuyên Đức vào thời Khang Hy, Ung Chính triều Thanh thì không có đặc trưng này.

Thai và men của đồ sứ thời Khang Hy triều Thanh, màu thai trắng mịn, chất thai thuần sạch, mịn chắc và cứng. So với cùng một loại đồ vật của các triều đại khác, thai thể của nó nặng nhất. Ngoài ra, trong thời kỳ này, trên cùng một món đồ thường phủ hai loại men trắng. Phía trong đồ vật, mép miệng và đáy ngoài của đồ vật phủ men trắng phấn, lớp men tương đối mỏng, thường có thể thấy hiện tượng co men nhỏ; ở phần đáy còn có thể thấy dấu vết đường xoáy trong phôi thai. Thân đồ được phủ men thanh sáng, men óng nhuận, sáng bóng, thai và men kết hợp cực kỳ chắc chặt. Một món đồ phủ hai loại men là đặc điểm lớn nhất của đồ sứ được sản xuất vào thời Khang Hy triều Thanh.

Đồ sứ của mỗi thời đại, mỗi lò nung đều mang DNA khác nhau của riêng mình. Những điểm khác biệt này thường có rất nhiều biểu hiện tại những chỗ lộ thai của đồ vật – đáy chân.

Khi làm phôi, kê nung và ra lò, do tỷ lệ phối trộn nguyên liệu đất làm phôi khác nhau nên biểu hiện màu thai hoặc đỏ, hoặc xám, hoặc trắng;

Khi sửa chân, do phương pháp kỹ thuật của các thời đại khác nhau nên hình thành những trạng thái khác nhau như nhũ đinh, vết nhảy dao, vòng tròn đồng tâm, vết khoét xoáy;

Khi xếp vào lò, do kê nung hoặc kê cát, đáy đồ vật cũng để lại những dấu vết khác nhau;

Sau khi vào lò, lại do nguyên tố sắt có trong đất thai theo hơi nước thoát ra ngoài, khiến những chỗ lộ thai biểu hiện màu đỏ lò với sắc vàng cam, đỏ cam;

Hãy thử tìm một số đáy đồ vật có đặc trưng để học tập, nhằm nâng cao năng lực giám định đồ sứ.

Dấu vết kê nung ở đáy đồ gốm lò Việt thời Tấn.

 Dấu vết kê nung ở đáy đồ gốm lò Việt thời Đường.

Dấu vết cạo ở đáy đồ gốm lò Trường Sa thời Đường.

Dấu vết cạo ở đáy đồ gốm lò Hồng Châu thời Đường.

Đáy ngọc bích đồ gốm lò Hình thời Đường – Ngũ Đại.

Dấu vết kê nung ở đáy đồ gốm lò Hồ Điền thời Tống.​​​​​​​

 

Nhũ đinh ở đáy đồ gốm thời Nguyên.​​​​​​​

Vết khoét xoáy ở đáy đồ gốm thời Nguyên.​​​​​​​

Vết nhảy dao và nhũ đinh trên đồ gốm thời Minh.

Dính cát trên đồ gốm thời Minh.

 

Kê cát, đáy “hồ mễ” trên đồ gốm thời Minh.

Vết nhảy dao trên đồ gốm thời Minh.

Thời Khang Hy triều Thanh – co men, lộ cốt thai.​​​​​​​

 

Điểm đột phá nằm ở đâu? Theo kinh nghiệm của tôi, có thể bắt đầu từ đáy chân. Một phần đáy chân nhỏ bé có thể phản ánh những đặc trưng quan trọng của đồ sứ. Nắm bắt những đặc trưng này để phân tích tổng hợp sẽ tương đối dễ tìm được cảm giác, tránh đồ giả và phát hiện đồ thật. Dưới đây xin giới thiệu đơn giản một vài loại đặc trưng của đáy chân, hy vọng có thể giúp ích cho người mới học.

Giám định gốm sứ không ngoài những con đường như xem khí hình, phân biệt thai men, bàn về hoa văn trang trí, tìm hiểu bối cảnh lịch sử… Nhưng đối với những sản phẩm phỏng cao cấp hiện nay, về cơ bản những đặc trưng này đều đã có thể đạt được. Đối với người mới học, trong lòng nóng vội nhưng lại không biết bắt đầu từ đâu.

Ví dụ, những đặc trưng ở đáy chân như “nhũ đột” (乳突), “vết xoáy” (旋痕) – bao gồm vân ốc và vết cắt gọt, “vết nhảy dao” (跳刀痕), “tông nhãn” (棕眼), “hỏa thạch hồng” (火石红 – đỏ lò), “dấu vết kê nung” (垫烧痕), “đáy hồ mễ” (湖米底), “đáy gõ” (敲底), “dính cát lò” (沾窑砂)… đều là những dấu vết niên đại rõ ràng mà đồ sứ cổ để lại.

“Nhũ đột” (乳突) là phần trung tâm đáy chân nhô lên giống như đầu vú. Thời Nguyên, “nhũ đột” rõ rệt; đầu thời Minh, “nhũ đột” cũng tương đối lớn; đến giữa thời Hồng Vũ dần nhỏ lại; thời Vĩnh Lạc, Tuyên Đức có “nhũ đột” nhỏ. Tuy thời Thành Hóa, Hoằng Trị và Chính Đức tương đối ít gặp “nhũ đột”, nhưng đến thời Gia Tĩnh, Vạn Lịch lại xuất hiện, mãi đến Sùng Trinh mới biến mất. Điều này có nghĩa rằng “nhũ đột” là một trong những đặc trưng của đồ sứ cổ thời Minh và trước thời Minh.

“Vết xoáy” (旋痕) bao gồm cả “vết nhảy dao”, tương đối rõ rệt vào cuối Minh đầu Thanh; còn vào đầu thời Minh, thành ngoài đáy chân thường có những vết dao gọt xiên mạnh. Thời Tống, thành trong đáy chân cũng có vết dao gọt xoay nửa vòng, khiến ở giữa nhô lên thành một đường sống. Đến thời Chính Đức triều Minh, tại đáy chân thường có vân ốc dạng tỏa tia.

“Tông nhãn” (棕眼), tức lỗ nhỏ như lỗ kim, vào thời Khang Hy thường xuất hiện tại phần men đáy với kích thước lớn nhỏ khác nhau, phân bố thưa dày không đều. Nhưng bất kể lớn hay nhỏ, từ trong “tông nhãn” đều có thể nhìn thấy rõ thai thể. Trong khi đó, những sản phẩm phỏng Khang Hy vào thời Quang Tự, Dân Quốc và hiện nay có “tông nhãn” tương đối nông, từ bên trong “tông nhãn” thông thường không nhìn thấy thai thể.

“Hỏa thạch hồng” (火石红 – đỏ lò): trước thời Minh, do hàm lượng sắt trong đất thai cao, khi gia nhiệt, những chỗ lộ thai bị oxy hóa thành màu đỏ gạch, thậm chí có màu gan dê. Đến thời Minh màu đã tương đối nhạt, nhưng vào thời Tuyên Đức triều Minh vẫn thường thấy đốm hỏa thạch hồng. Cho đến đầu thời Thanh vẫn có thể nhìn thấy hỏa thạch hồng.

“Đáy hồ mễ” (湖米底) xuất hiện trên những đĩa lớn đáy cát thời Minh và trước thời Minh. Do hàm lượng sắt trong thai cao, sau khi nung phải thông gió làm nguội ở nhiệt độ cao, phần đáy cát chịu gió bị oxy hóa, tạo thành từng mảng dấu vết giống như cơm bị cháy khét.

“Đáy gõ” (敲底) xuất hiện trên đồ Quân hồng thời Đạo Quang. Do lớp men dày đầy, chảy xuống phần đáy chân, sau khi nung sẽ dính liền với vật kê bên dưới. Muốn tách chúng ra chỉ có thể dùng phương pháp thủ công gõ tách, khiến đáy chân trông giống như bị chó cắn. Tuy nhiên, dù như vậy, do niên đại đã lâu nên những vị trí bị gõ thông thường có màu thai trở nên sẫm hơn, đồng thời khi sờ có cảm giác nhẵn.

“Dính cát lò” (沾窑砂): do kỹ thuật nung lò đặc thù trong quá khứ, đáy chân của đĩa, bát thường dính những hạt cát lò tương đối thô. Ví dụ, đáy chân bát lò Từ Châu có dính cát lò tương đối thô; vào thời Minh – Thanh, phần bên trong chân của không ít đĩa, bát và các loại đồ sứ khác cũng có cát lò bám dính.

Chúng ta cần nắm bắt những đặc trưng này, kết hợp với kinh nghiệm ở các phương diện khác. Tôi cho rằng đây sẽ là một con đường tương đối tốt để giám định đồ sứ.

Nguồn: :zhuanlan.zhihu.com

Lão Cổ Vật 

 

 

 

Để lại Đánh giá

Email của bạn sẽ được giữ kín, các trường cần điền sẽ đánh dấu *

Đánh giá*

Họ tên *

Email *

Tin liên quan

Chọn bài viết hiển thị
Xác Định Giá Trị Của Đồ Cổ

laocovat

Thứ Bảy, 12 Tháng Chín 2026

Xác Định Giá Trị Của Đồ Cổ
Đồ độc bản là gì?

laocovat

Thứ Bảy, 12 Tháng Chín 2026

Đồ độc bản là gì?
Tranh chữ PHÚC cỡ lớn
Chỉnh sửa ảnh liên kết