Tư vấn thẩm định cổ vật

Trang chủ / Tin Tức / THỜI KỲ ĐỒ ĐÁ Ở VIỆT NAM

THỜI KỲ ĐỒ ĐÁ Ở VIỆT NAM

Thời kỳ đồ đá là giai đoạn sớm nhất trong lịch sử phát triển của loài người trên lãnh thổ Việt Nam, kéo dài hàng chục nghìn năm trước khi con người biết sử dụng kim loại. Đây là thời kỳ đánh dấu quá trình thích nghi lâu dài của cư dân tiền sử với môi trường tự nhiên, đồng thời phản ánh những bước tiến quan trọng về tư duy kỹ thuật, tổ chức đời sống và phương thức khai thác tài nguyên. Những phát hiện khảo cổ học trong hơn một thế kỷ qua cho thấy Việt Nam là một trong những khu vực có lịch sử cư trú lâu đời ở Đông Nam Á, với nhiều nền văn hóa khảo cổ nổi tiếng như Sơn Vi, Hòa Bình, Bắc Sơn, Quỳnh Văn và Đa Bút.

Dựa trên trình độ chế tác công cụ và đặc điểm kinh tế – xã hội, các nhà khảo cổ học chia thời kỳ đồ đá ở Việt Nam thành ba giai đoạn chính: Đá cũ, Đá giữa và Đá mới. Mỗi giai đoạn không chỉ phản ánh sự tiến bộ về kỹ thuật chế tác công cụ mà còn thể hiện những biến đổi quan trọng trong đời sống của cư dân tiền sử.

 

THỜI KỲ ĐỒ ĐÁ CŨ

Văn hóa Sơn Vi – Dấu ấn của cư dân săn bắt hái lượm cuối thời đá cũ

Văn hóa Sơn Vi được xem là nền văn hóa khảo cổ tiêu biểu của hậu kỳ đá cũ ở Việt Nam, tồn tại trong khoảng từ 20.000 đến 11.000 năm cách ngày nay (BP). Tên gọi của nền văn hóa này xuất phát từ di chỉ Sơn Vi thuộc tỉnh Phú Thọ, nơi các nhà khảo cổ lần đầu tiên phát hiện được hệ thống hiện vật mang đặc trưng riêng biệt.

Các di chỉ văn hóa Sơn Vi phân bố chủ yếu ở vùng trung du Bắc Bộ, đặc biệt trên các thềm sông cổ thuộc lưu vực sông Hồng và sông Lô. Việc lựa chọn địa điểm cư trú gần nguồn nước cho thấy cư dân Sơn Vi đã biết tận dụng điều kiện tự nhiên thuận lợi để tìm kiếm thức ăn và duy trì cuộc sống. Khác với các cư dân sống trong hang động ở những giai đoạn sau, người Sơn Vi chủ yếu cư trú ngoài trời, trên các gò đất cao hoặc các bậc thềm sông tương đối bằng phẳng.

Công cụ lao động của cư dân Sơn Vi được chế tác chủ yếu từ cuội sông. Các loại hình phổ biến gồm công cụ ghè đẽo một mặt, công cụ hình hạnh nhân, công cụ hình đĩa, mảnh tước và các loại nạo đá. Đặc điểm nổi bật của những công cụ này là còn khá thô sơ, hình dáng chưa ổn định và phụ thuộc nhiều vào hình dạng tự nhiên của nguyên liệu đá. Người Sơn Vi thường chỉ ghè một số cạnh để tạo lưỡi sắc phục vụ cho việc cắt, chặt hoặc nạo.

Về mặt kỹ thuật, đây là giai đoạn mà phương pháp ghè đẽo trực tiếp giữ vai trò chủ đạo. Người tiền sử sử dụng một hòn đá khác làm búa ghè để tạo ra các cạnh sắc trên cuội đá. Kỹ thuật mài hoàn toàn chưa xuất hiện, vì vậy hiệu quả sử dụng của công cụ còn hạn chế. Tuy nhiên, việc biết lựa chọn nguyên liệu thích hợp và tạo ra những công cụ có chức năng nhất định cho thấy tư duy kỹ thuật của cư dân Sơn Vi đã đạt đến một trình độ phát triển đáng kể trong bối cảnh thời đại đá cũ.

Đời sống kinh tế của cư dân Sơn Vi chủ yếu dựa vào săn bắt và hái lượm. Họ khai thác các nguồn thức ăn có sẵn trong tự nhiên như động vật hoang dã, cá, rau củ và quả rừng. Nền kinh tế hoàn toàn mang tính chiếm đoạt tự nhiên, chưa xuất hiện bất kỳ hình thức sản xuất nào.

Công cụ văn hóa đá cũ hậu kỳ 1-2. Kỹ nghệ Ngườm; 3-4. Văn hóa Sơn Vi (Nguồn: Hiện vật Bảo tàng Nhân học, Đại học Quốc gia Hà Nội)

THỜI KỲ ĐỒ ĐÁ GIỮA

Văn hóa Hòa Bình – Bước chuyển quan trọng trong lịch sử tiền sử Việt Nam

Sau văn hóa Sơn Vi, cư dân tiền sử Việt Nam bước sang một giai đoạn phát triển mới được đại diện bởi văn hóa Hòa Bình, tồn tại khoảng từ 12.000 đến 8.000 năm cách ngày nay. Đây không chỉ là một nền văn hóa khảo cổ nổi tiếng ở Việt Nam mà còn được giới nghiên cứu quốc tế công nhận là một trong những truyền thống văn hóa tiêu biểu của Đông Nam Á thời tiền sử.

Các di tích văn hóa Hòa Bình tập trung chủ yếu trong các hang động và mái đá thuộc vùng núi đá vôi của Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Sơn La và Nghệ An. Môi trường cư trú này tạo điều kiện thuận lợi cho con người tránh được các tác động bất lợi của khí hậu, đồng thời gần nguồn nước và các khu vực có nhiều động thực vật để khai thác.

So với văn hóa Sơn Vi, công cụ lao động của cư dân Hòa Bình đã có sự tiến bộ rõ rệt. Bên cạnh các loại rìu ngắn, công cụ hình đĩa và nạo đá, loại hình đặc trưng nhất là công cụ Sumatralith – một dạng công cụ cuội được ghè đẽo tương đối hoàn chỉnh trên một hoặc hai mặt. Các hiện vật cho thấy người Hòa Bình đã chú ý hơn đến việc tạo hình công cụ theo những kiểu dáng nhất định thay vì chỉ tận dụng hình dạng tự nhiên của đá.

Kỹ thuật chế tác công cụ ở giai đoạn này cũng đạt đến trình độ cao hơn. Việc ghè đẽo hai mặt xuất hiện phổ biến hơn, giúp tạo ra lưỡi công cụ sắc bén và cân đối. Đặc biệt, ở một số di tích đã phát hiện dấu vết của kỹ thuật mài lưỡi sơ khai. Đây là một bước tiến có ý nghĩa rất lớn, bởi nó mở đầu cho quá trình chuyển biến từ công cụ ghè đẽo truyền thống sang công cụ mài – đặc trưng của thời đại đá mới.

Đời sống kinh tế của cư dân Hòa Bình vẫn dựa chủ yếu vào săn bắt và hái lượm, song mức độ ổn định đã cao hơn trước. Các nhà nghiên cứu cho rằng vào giai đoạn muộn của văn hóa Hòa Bình, con người có thể đã bắt đầu thuần hóa một số loài thực vật và động vật, tạo tiền đề cho sự hình thành nền kinh tế sản xuất trong tương lai.

Rìu ngắn, đá cuội, văn hóa Hòa Bình, khoảng 18.000 - 7.000 năm cách ngày nay

THỜI KỲ ĐỒ ĐÁ MỚI

Văn hóa Bắc Sơn – Khởi đầu của kỹ thuật mài đá

Văn hóa Bắc Sơn xuất hiện vào khoảng 10.000 đến 8.000 năm cách ngày nay và được xem là giai đoạn mở đầu của thời đại đá mới ở Việt Nam. Các di tích tập trung chủ yếu ở vùng Đông Bắc, đặc biệt là tỉnh Lạng Sơn.

Điểm nổi bật nhất của văn hóa Bắc Sơn là sự xuất hiện của kỹ thuật mài đá. Nếu như trước đây công cụ chỉ được ghè đẽo để tạo cạnh sắc thì nay phần lưỡi đã được mài nhẵn, giúp tăng độ sắc bén và độ bền khi sử dụng. Những chiếc rìu có vai, rìu mài lưỡi và bôn đá là các loại hình công cụ đặc trưng của giai đoạn này.

Sự xuất hiện của kỹ thuật mài phản ánh bước tiến quan trọng trong tư duy kỹ thuật của con người. Công cụ không chỉ được tạo ra để sử dụng đơn thuần mà còn được gia công nhằm nâng cao hiệu quả lao động. Đây là nền tảng cho sự phát triển của hoạt động sản xuất trong các giai đoạn tiếp theo.

Ngoài ra, văn hóa Bắc Sơn còn ghi nhận những mảnh gốm thô đầu tiên. Sự ra đời của đồ gốm cho thấy cư dân đã biết chế tạo các vật dụng phục vụ nhu cầu chứa đựng và bảo quản thực phẩm, đánh dấu một bước tiến mới trong đời sống sinh hoạt.

Bàn mài lưỡi công cụ (dấu Bắc Sơn), đá Schiste, văn hóa Bắc Sơn, khoảng 11.000 - 6.000 năm cách ngày nay

Văn hóa Quỳnh Văn – Sự thích nghi với môi trường ven biển

Trong khoảng từ 8.000 đến 6.000 năm cách ngày nay, tại khu vực ven biển Bắc Trung Bộ đã hình thành văn hóa Quỳnh Văn. Đây là nền văn hóa phản ánh quá trình thích nghi của cư dân tiền sử với môi trường biển và đầm phá.

Công cụ lao động của cư dân Quỳnh Văn không chỉ được chế tác từ đá mà còn từ vỏ nhuyễn thể. Những chiếc rìu đá mài, công cụ đánh bắt cá và các hiện vật làm từ vỏ sò, vỏ ốc cho thấy hoạt động khai thác nguồn lợi biển giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống kinh tế.

Kỹ thuật mài đá ở giai đoạn này đã đạt trình độ cao hơn so với Bắc Sơn. Nhiều công cụ được mài nhẵn toàn bộ thân thay vì chỉ mài phần lưỡi. Điều này phản ánh sự hoàn thiện ngày càng cao của kỹ thuật chế tác và nhu cầu sử dụng những công cụ chuyên dụng trong hoạt động sản xuất.

 

Văn hóa Đa Bút – Bước chuẩn bị cho thời đại kim khí

Văn hóa Đa Bút tồn tại khoảng từ 6.000 đến 5.000 năm cách ngày nay, phân bố chủ yếu ở lưu vực sông Mã thuộc tỉnh Thanh Hóa. Đây được xem là một trong những nền văn hóa phát triển nhất của thời đại đá mới tại Việt Nam.

Các công cụ đá trong văn hóa Đa Bút phần lớn đã được mài nhẵn hoàn toàn. Bên cạnh rìu đá và bôn đá, nhiều công cụ nghiền và đồ gốm có hoa văn trang trí đã được phát hiện. Đặc biệt, kỹ thuật làm gốm phát triển mạnh mẽ với các loại hoa văn thừng đặc trưng, phản ánh trình độ thủ công ngày càng cao của cư dân thời kỳ này.

Khác với các giai đoạn trước, nền kinh tế Đa Bút đã xuất hiện nhiều dấu hiệu của sản xuất. Bên cạnh việc khai thác thủy sản và săn bắt, cư dân đã bắt đầu trồng trọt và chăn nuôi ở mức độ nhất định. Đây là bước chuyển quan trọng từ nền kinh tế chiếm đoạt sang nền kinh tế sản xuất, tạo tiền đề cho sự hình thành các nền văn hóa kim khí và các cộng đồng nông nghiệp sơ khai sau này.

Gốm đáy nhọn, văn hóa Quỳnh Văn (Nghệ An), khoảng 7.000 - 5.000 năm cách ngày nay

Sưu tập vỏ nhuyễn thể, văn hóa Đa Bút (Thanh Hóa), văn hóa Quỳnh Văn (Nghệ An), khoảng 7.000 - 4.500 năm cách ngày nay

Quá trình phát triển từ văn hóa Sơn Vi đến Hòa Bình, Bắc Sơn, Quỳnh Văn và Đa Bút phản ánh rõ nét lịch sử tiến hóa của cư dân tiền sử trên lãnh thổ Việt Nam. Từ những công cụ ghè đẽo thô sơ của thời đại đá cũ, con người từng bước hoàn thiện kỹ thuật chế tác bằng phương pháp mài, phát minh đồ gốm và tiến tới những hình thức sản xuất sơ khai. Những thành tựu đó không chỉ đánh dấu bước trưởng thành của xã hội nguyên thủy mà còn đặt nền móng cho sự xuất hiện của các nền văn hóa kim khí và nền văn minh nông nghiệp sau này trong lịch sử Việt Nam.

 

Tài liệu tham khảo

Hà, V. T. (1998). Khảo cổ học Việt Nam: Tập I – Thời đại đá Việt Nam. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.

Bùi, V., Đào, Q. C., & Đặng, H. L. (Chủ biên). (2021). Khảo cổ học Việt Nam: Tập I – Thời đại đá Việt Nam. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.

Bảo tàng Lịch sử Quốc gia. (n.d.). Sưu tập hiện vật thời đại đá ở Việt Nam.

Viện Khảo cổ học. (n.d.). Các nghiên cứu về thời đại đá Việt Nam. Hà Nội: Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.

Lão Cổ Vật tổng hợp

Để lại Đánh giá

Email của bạn sẽ được giữ kín, các trường cần điền sẽ đánh dấu *

Đánh giá*

Họ tên *

Email *

Tin liên quan

Chọn bài viết hiển thị
Xác Định Giá Trị Của Đồ Cổ

laocovat

Chủ Nhật, 14 Tháng Sáu 2026

Xác Định Giá Trị Của Đồ Cổ
Đồ độc bản là gì?

laocovat

Chủ Nhật, 14 Tháng Sáu 2026

Đồ độc bản là gì?
Tranh chữ PHÚC cỡ lớn
Chỉnh sửa ảnh liên kết

Địa Chỉ Cửa Hàng Chúng Tôi

Hotline: 098.13.02468

Email: contact@laocovat.com

Địa chỉ: 332 Âu Cơ - Nhật Tân - Tây Hồ - Hà Nội