Kiến thức Sưu tầm Cổ vật
Mang thân người của chó, sư tử, đến cả rồng, kỳ lân… Nghê hiện hữu từ nơi tôn nghiêm đình, chùa, lăng tẩm, cung điện cho đến chốn dân dã – thân quen như cổng làng… Mỗi sự xuất hiện của Nghê lại là một nét biểu cảm kỳ diệu.
Trong kho tàng văn hóa truyền thống Việt Nam, hệ thống linh vật cổ giữ vai trò đặc biệt trong việc phản ánh thế giới quan, tư duy thẩm mỹ và đời sống tín ngưỡng của cộng đồng qua nhiều giai đoạn lịch sử. Những hình tượng như nghê, rồng, lân, quy, hạc không chỉ xuất hiện phổ biến trong kiến trúc đình, đền, chùa và di tích cung đình, mà còn trở thành hệ biểu tượng quen thuộc trong mỹ thuật và đồ thờ tự. Các linh vật này là sản phẩm sáng tạo nghệ thuật mang tính biểu trưng, phản ánh quan niệm của người Việt về trật tự xã hội, thiên nhiên và đời sống tinh thần.
Phong thủy không chỉ đơn thuần là việc sắp đặt không gian sống mà còn là sự hài hòa giữa con người và môi trường xung quanh. Từ hàng nghìn năm trước, người phương Đông đã tin rằng mọi vật đều mang những đặc tính riêng, có khả năng tác động đến cảm nhận, tâm lý và đời sống tinh thần của con người. Đồ cổ luôn chiếm một vị trí đặc biệt. Không ít người lựa chọn cổ vật để bài trí trong không gian sống. Tuy nhiên, giá trị của đồ cổ trong phong thủy không nhất thiết nằm ở những lời đồn đoán về khả năng thay đổi vận mệnh hay mang lại tài lộc, mà trước hết bắt nguồn từ những giá trị văn hóa, lịch sử và tinh thần mà hiện vật lưu giữ qua thời gian.
Văn hóa Óc Eo là một nền văn hóa cổ hình thành và phát triển trong khoảng 10 thế kỉ đầu công nguyên ở đồng bằng Nam bộ, Việt Nam. Tên gọi nền văn hóa này do nhà khảo cổ học người Pháp Louis Malleret đặt ra sau cuộc khai quật khảo cổ học đầu tiên năm 1944 tại khu di tích Óc Eo thuộc xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Trải qua 70 năm phát hiện và nghiên cứu, diện mạo của nền văn hóa đặc sắc, nổi tiếng này ngày càng trở nên rõ nét hơn. Là những chứng tích vật chất của quốc gia cổ Phù Nam
Gốm men vàng, men lục, men trắng ngà, men ngọc, men lam xám, men nhiều màu… trước đây cứ ngỡ là xuất xứ của gốm thời Đường, Tống, Nguyên bên đất Trung Hoa, nay đã được định danh một cách cụ thể về niên đại, nguồn gốc là gốm Việt cổ.
Ở một ngôi làng ven sông Hồng, vàng không nằm trong két sắt mà được lấy búa đánh mỏng thành những phiến ánh sáng. Đó là Kiêu Kỵ, làng nghề duy nhất của Việt Nam còn giữ trọn kỹ thuật làm quỳ vàng truyền thống, nơi gìn giữ không chỉ một nghề thủ công, mà cả linh hồn thị giác của nghệ thuật, trang trí kiến trúc Việt suốt nhiều thế kỷ.
Giới thiệu
Để xác định một hiện vật đồng Trung Quốc có phải cổ vật chính gốc hay không, các chuyên gia thường đánh giá tổng hợp nhiều yếu tố thay vì dựa vào một dấu hiệu đơn lẻ. Trong thực tế, việc giám định đồ đồng Trung Hoa đòi hỏi sự kết hợp giữa kiến thức khảo cổ học, lịch sử mỹ thuật, kỹ thuật luyện kim và kinh nghiệm thực địa.
Trong tiến trình hình thành nền văn minh Trung Hoa cổ đại, giai đoạn chuyển tiếp từ thời đại Đá mới sang thời đại Đồ Đồng giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Đây là thời kỳ xuất hiện những trung tâm quyền lực đầu tiên, các hình thức tổ chức xã hội phức tạp và những bước tiến vượt bậc về kỹ thuật luyện kim. Trong số các nền văn hóa khảo cổ thuộc giai đoạn này, Văn hóa Nhị Lý Đầu (二里头文化) được xem là cột mốc đánh dấu sự khởi đầu của thời đại Đồ Đồng ở khu vực Trung Nguyên và là nền tảng cho sự hình thành các nhà nước sơ khai tại Trung Quốc.
Có tỉ mỉ chi tiết, có khoáng đạt bay bổng, nghệ thuật điêu khắc sử dụng chất liệu đá của các vương triều Đại Việt để lại nhiều di sản nổi bật thể hiện trên linh thú, kiến trúc, mảng trang trí nơi kinh thành, chùa miếu, lăng tẩm. Mỗi thời kỳ, ngôn ngữ điêu khắc đều biểu hiện phong cách riêng, đẹp kỳ diệu qua năm tháng.
Trong không gian sống của các gia đình danh gia vọng tộc và những dòng họ khoa bảng xưa, các tác phẩm hoành phi, cuốn thư, câu đối hay bình phong sơn son thếp vàng luôn giữ vị trí trang trọng, vừa là biểu tượng của gia phong, học vấn, vừa thể hiện địa vị và thẩm mỹ của chủ nhân. Những hiện vật này không chỉ hiện diện trong từ đường, phòng khách mà còn được chế tác để ghi dấu những sự kiện trọng đại như tân gia, nhậm chức, đón sắc phong hoặc những dịp vinh hiển của gia tộc.
Vào thời Nguyễn (1802 – 1945) nghệ thuật chế tác bạc cũng rất được chú trọng nhằm phục vụ nghi lễ triều đình và đồ nhật dụng hoàng gia. Từng sản phẩm khi hoàn thiện đều là tuyệt tác kỹ nghệ.
Năm 2004, tôi dẫn đoàn chuyên gia khảo cổ Đại học Quốc gia Úc đang cùng tôi khai quật hai khu mộ táng Đông Sơn ở Động Xá (Hưng Yên) và Yên Bắc (Hà Nam, nay là Ninh Bình) về Thanh Hóa tham dự Hội nghị kỷ niệm 80 năm phát hiện và nghiên cứu Văn hóa Đông Sơn (1924 - 2004). Tôi có nhã ý mời các bạn ăn cơm tối ở nhà hàng Bảo tàng Rừng Trong Phố để tiện thể giới thiệu sưu tập đồ Đông Sơn của chủ nhân…
Trong không gian làng cổ Việt, đình luôn là công trình kiến trúc vĩ đại – bề thế, vị trí đắc địa, đẹp nhất làng. Chi tiết trang trí kiến trúc cho đình cũng mang vẻ đẹp tương xứng, là nghệ thuật độc đáo chỉ có ở đình làng. Các mảng trang trí thường gửi gắm khát vọng, ước mong của con người bản địa, thông qua nhiều hình tượng khác biệt, trong đó linh thú là cụm đề tài được ưa thích sử dụng.
Thời đại Đồ Đồng là một trong những giai đoạn quan trọng nhất trong lịch sử Trung Quốc cổ đại, kéo dài từ khoảng năm 2000 TCN đến năm 221 TCN. Đây không chỉ là thời kỳ đánh dấu sự phát triển vượt bậc của kỹ thuật luyện kim mà còn là giai đoạn hình thành những nền tảng đầu tiên của nhà nước, tôn giáo, quân sự và nghệ thuật Trung Hoa. Trong gần hai thiên niên kỷ, đồ đồng đã vượt xa vai trò của một loại vật liệu chế tác công cụ thông thường để trở thành biểu tượng của quyền lực chính trị, tín ngưỡng và địa vị xã hội.
Sự phát triển của thời đại Đồ Đồng ở Trung Quốc gắn liền với quá trình hình thành các nhà nước đầu tiên tại lưu vực sông Hoàng Hà, bắt đầu từ Văn hóa Nhị Lý Đầu (thường được nhiều học giả liên hệ với nhà Hạ trong truyền thuyết), đạt đỉnh cao dưới thời Thương và tiếp tục phát triển qua các thời kỳ Tây Chu và Đông Chu. Dựa trên những biến đổi về kỹ thuật, chức năng và giá trị văn hóa của đồ đồng, các nhà nghiên cứu thường chia giai đoạn này thành bốn thời kỳ chính: giai đoạn sơ khai của Văn hóa Nhị Lý Đầu, thời kỳ cực thịnh dưới nhà Thương, thời kỳ phát triển đa dạng dưới thời Tây Chu và giai đoạn chuyển tiếp sang thời đại đồ sắt dưới thời Đông Chu.
Khi nói đến gốm sứ Trung Quốc, không phải tất cả các sắc xanh đều giống nhau. Dưới đây là hướng dẫn của chúng tôi về các sắc thái xanh khác nhau mà các nhà sưu tập nên chú ý — được minh họa bằng các hiện vật được chào bán tại Christie’s.
Giám định đồ sứ cổ là một công việc quan trọng trong nghiên cứu và bảo tồn di sản văn hóa. Mỗi hiện vật được lưu truyền qua thời gian hay được khai quật từ lòng đất đều mang trong mình những giá trị lịch sử và nghệ thuật riêng. Vì vậy, việc giám định không chỉ nhằm xác định niên đại, nguồn gốc hay giá trị của hiện vật mà còn góp phần nhận diện tính xác thực của cổ vật, đặc biệt trong bối cảnh đồ giả ngày càng xuất hiện nhiều trên thị trường sưu tầm.
Hướng dẫn chuyên sâu dành cho người yêu và nghiên cứu gốm sứ thời Tống. Với kiểu dáng thanh thoát, tinh giản và màu men nhã nhặn, những tác phẩm này mang vẻ đẹp hiện đại đến bất ngờ dù đã có tuổi đời hàng trăm năm. Bài viết được minh họa bằng các hiện vật từng được giới thiệu tại Christie's
Hướng dẫn tìm hiểu các đồ đồng cổ đại: từ minh văn, nguồn gốc hình thành cho đến công năng sử dụng và xuất xứ lưu truyền — được minh họa bằng các hiện vật từng được đưa ra đấu giá tại Christie's.
Đồ đồng nghi lễ cổ đại Trung Hoa là một trong những lĩnh vực sưu tầm có giá trị học thuật và nghệ thuật cao nhất của nền văn minh phương Đông. Để xây dựng một bộ sưu tập chất lượng, nhà sưu tầm cần hiểu rõ về loại hình, niên đại, minh văn, nguồn gốc xuất xứ cũng như tình trạng bảo tồn của hiện vật.
Thống kê từ khối tư liệu rìu chiến Đông Sơn có thể nhận ra 10% loại hình rìu chiến có lưỡi xòe cân. Đây sẽ là chủ đề được tập trung trong buổi "rì rầm từ tiếng đất" kỳ này, sau chuỗi 3 bài nói về các loại rìu chiến lưỡi lệch.
Vào triều đại nhà Minh (1368-1644), sau khi chế độ Mông Cổ kết thúc dưới triều đại nhà Nguyên (1279-1368), triều đình của Hoàng đế Hồng Vũ (1368-1398) đã kiểm soát chặt chẽ hoạt động buôn bán đồ sứ đang phát triển mạnh mẽ và tự do, xuất khẩu sang các vùng khác ở châu Á và thậm chí đến tận châu Âu. Sản xuất được tổ chức rất bài bản, các lò nung lớn trải rộng trên nhiều tỉnh thành, và phương thức sản xuất theo dây chuyền được áp dụng. Việc tạo ra các sản phẩm tinh xảo và đồ sứ hoàng gia bắt nguồn từ Cảnh Đức Trấn – niềm tự hào của triều đình. Tầm quan trọng của Cảnh Đức Trấn đối với đồ sứ men lam trắng và sự giao thoa với nghệ thuật Hồi giáo là rất lớn.
Văn hóa đông Sơn (khoảng từ thế kỷ thứ 8 – 7 trước Công nguyên cho đến thế kỷ thứ 1 – 2 sau Công nguyên) là một nền văn hóa khảo cổ học thời đại kim khí ở Việt Nam, được các nhà khảo cổ học đặt tên dựa vào sự phát hiện ngẫu nhiên một nhóm đồ đồng cổ vào năm 1924 tại làng đông Sơn ở ven Sông Mã, nay thuộc phường Hàm Rồng, thành phố Thanh Hóa, bắc trung bộ Việt Nam.
Văn hóa Đồng Nai là một trong những nền văn hóa khảo cổ tiêu biểu của Việt Nam thời tiền – sơ sử, tồn tại từ khoảng 4.000 năm trước đến đầu Công nguyên. Cùng với văn hóa Đông Sơn ở Bắc Bộ và văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung, văn hóa Đồng Nai tạo nên ba trung tâm văn minh kim khí lớn của Việt Nam cổ đại. Không chỉ phản ánh quá trình thích nghi của cư dân với môi trường tự nhiên Đông Nam Bộ, văn hóa Đồng Nai còn được xem là nền tảng bản địa góp phần hình thành nền văn hóa Óc Eo và các truyền thống văn hóa Nam Bộ về sau.
Tuy chỉ trị vì bảy năm song vua Thiệu Trị là ông vua cho ký kiểu đồ sứ nhiều nhất vào thời Nguyễn.Về mặt thẩm mỹ, ĐSKK triều Thiệu Trị đạt đến độ tuyệt hảo về cả hình vẽ, chất lượng men màu và xương đất, có thể sánh với đồ sứ mang các hiệu đề 內府侍... (Nội phủ thị...) và đồ sứ 慶春侍左 (Khánh xuân thị tả) thời Lê - Trịnh. ĐSKK triều Thiệu Trị phong phú về dáng kiểu và chủng loại, nhất là những đồ sứ gia dụng và đồ tế tự.
Trong Hội nghị "Hùng Vương dựng nước" lần thứ 3, năm 1971, giáo sư Đặng Nghiêm Vạn đã khiến cả hội nghị sửng sốt trước thông tin về hiện tượng uống bằng mũi của người Mảng, gắn với ghi chép về tục "tị ẩm" trong truyền thuyết thời Hùng Vương. Bài viết có sử dụng tư liệu và hình ảnh của các đồng nghiệp như Nguyễn Duy Thiệu và sưu tập CQK. Đây là một ghi chép rất ngắn ngủi được tác giả Lĩnh Nam trích quái chép lại khi nói đến phong tục thời Hùng Vương. Theo đó, việc có một số dân tộc thiểu số hiện sinh sống ở nước ta vẫn duy trì việc đưa dung dịch như rượu, nước gia vị cay… qua đường mũi, như một dạng "ẩm thực" kỳ lạ.