Tư vấn thẩm định cổ vật

Trang chủ / Kiến thức Sưu tầm

Kiến thức Sưu tầm Cổ vật

Trong không gian làng cổ Việt, đình luôn là công trình kiến trúc vĩ đại – bề thế, vị trí đắc địa, đẹp nhất làng. Chi tiết trang trí kiến trúc cho đình cũng mang vẻ đẹp tương xứng, là nghệ thuật độc đáo chỉ có ở đình làng. Các mảng trang trí thường gửi gắm khát vọng, ước mong của con người bản địa, thông qua nhiều hình tượng khác biệt, trong đó linh thú là cụm đề tài được ưa thích sử dụng.

14 TH 6

Thời đại Đồ Đồng là một trong những giai đoạn quan trọng nhất trong lịch sử Trung Quốc cổ đại, kéo dài từ khoảng năm 2000 TCN đến năm 221 TCN. Đây không chỉ là thời kỳ đánh dấu sự phát triển vượt bậc của kỹ thuật luyện kim mà còn là giai đoạn hình thành những nền tảng đầu tiên của nhà nước, tôn giáo, quân sự và nghệ thuật Trung Hoa. Trong gần hai thiên niên kỷ, đồ đồng đã vượt xa vai trò của một loại vật liệu chế tác công cụ thông thường để trở thành biểu tượng của quyền lực chính trị, tín ngưỡng và địa vị xã hội.

Sự phát triển của thời đại Đồ Đồng ở Trung Quốc gắn liền với quá trình hình thành các nhà nước đầu tiên tại lưu vực sông Hoàng Hà, bắt đầu từ Văn hóa Nhị Lý Đầu (thường được nhiều học giả liên hệ với nhà Hạ trong truyền thuyết), đạt đỉnh cao dưới thời Thương và tiếp tục phát triển qua các thời kỳ Tây Chu và Đông Chu. Dựa trên những biến đổi về kỹ thuật, chức năng và giá trị văn hóa của đồ đồng, các nhà nghiên cứu thường chia giai đoạn này thành bốn thời kỳ chính: giai đoạn sơ khai của Văn hóa Nhị Lý Đầu, thời kỳ cực thịnh dưới nhà Thương, thời kỳ phát triển đa dạng dưới thời Tây Chu và giai đoạn chuyển tiếp sang thời đại đồ sắt dưới thời Đông Chu.

14 TH 6

Khi nói đến gốm sứ Trung Quốc, không phải tất cả các sắc xanh đều giống nhau. Dưới đây là hướng dẫn của chúng tôi về các sắc thái xanh khác nhau mà các nhà sưu tập nên chú ý — được minh họa bằng các hiện vật được chào bán tại Christie’s.
 

14 TH 6

Giám định đồ sứ cổ là một công việc quan trọng trong nghiên cứu và bảo tồn di sản văn hóa. Mỗi hiện vật được lưu truyền qua thời gian hay được khai quật từ lòng đất đều mang trong mình những giá trị lịch sử và nghệ thuật riêng. Vì vậy, việc giám định không chỉ nhằm xác định niên đại, nguồn gốc hay giá trị của hiện vật mà còn góp phần nhận diện tính xác thực của cổ vật, đặc biệt trong bối cảnh đồ giả ngày càng xuất hiện nhiều trên thị trường sưu tầm.
 

12 TH 6

Hướng dẫn chuyên sâu dành cho người yêu và nghiên cứu gốm sứ thời Tống. Với kiểu dáng thanh thoát, tinh giản và màu men nhã nhặn, những tác phẩm này mang vẻ đẹp hiện đại đến bất ngờ dù đã có tuổi đời hàng trăm năm. Bài viết được minh họa bằng các hiện vật từng được giới thiệu tại Christie's

11 TH 6

Hướng dẫn tìm hiểu các đồ đồng cổ đại: từ minh văn, nguồn gốc hình thành cho đến công năng sử dụng và xuất xứ lưu truyền — được minh họa bằng các hiện vật từng được đưa ra đấu giá tại Christie's.
Đồ đồng nghi lễ cổ đại Trung Hoa là một trong những lĩnh vực sưu tầm có giá trị học thuật và nghệ thuật cao nhất của nền văn minh phương Đông. Để xây dựng một bộ sưu tập chất lượng, nhà sưu tầm cần hiểu rõ về loại hình, niên đại, minh văn, nguồn gốc xuất xứ cũng như tình trạng bảo tồn của hiện vật.

11 TH 6

Thống kê từ khối tư liệu rìu chiến Đông Sơn có thể nhận ra 10% loại hình rìu chiến có lưỡi xòe cân. Đây sẽ là chủ đề được tập trung trong buổi "rì rầm từ tiếng đất" kỳ này, sau chuỗi 3 bài nói về các loại rìu chiến lưỡi lệch.
 

11 TH 6

Vào triều đại nhà Minh (1368-1644), sau khi chế độ Mông Cổ kết thúc dưới triều đại nhà Nguyên (1279-1368), triều đình của Hoàng đế Hồng Vũ (1368-1398) đã kiểm soát chặt chẽ hoạt động buôn bán đồ sứ đang phát triển mạnh mẽ và tự do, xuất khẩu sang các vùng khác ở châu Á và thậm chí đến tận châu Âu. Sản xuất được tổ chức rất bài bản, các lò nung lớn trải rộng trên nhiều tỉnh thành, và phương thức sản xuất theo dây chuyền được áp dụng. Việc tạo ra các sản phẩm tinh xảo và đồ sứ hoàng gia bắt nguồn từ Cảnh Đức Trấn – niềm tự hào của triều đình. Tầm quan trọng của Cảnh Đức Trấn đối với đồ sứ men lam trắng và sự giao thoa với nghệ thuật Hồi giáo là rất lớn.

11 TH 6

Văn hóa đông Sơn (khoảng từ thế kỷ thứ 8 – 7 trước Công nguyên cho đến thế kỷ thứ 1 – 2 sau Công nguyên) là một nền văn hóa khảo cổ học thời đại kim khí ở Việt Nam, được các nhà khảo cổ học đặt tên dựa vào sự phát hiện ngẫu nhiên một nhóm đồ đồng cổ vào năm 1924 tại làng đông Sơn ở ven Sông Mã, nay thuộc phường Hàm Rồng, thành phố Thanh Hóa, bắc trung bộ Việt Nam.

11 TH 6

Văn hóa Đồng Nai là một trong những nền văn hóa khảo cổ tiêu biểu của Việt Nam thời tiền – sơ sử, tồn tại từ khoảng 4.000 năm trước đến đầu Công nguyên. Cùng với văn hóa Đông Sơn ở Bắc Bộ và văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung, văn hóa Đồng Nai tạo nên ba trung tâm văn minh kim khí lớn của Việt Nam cổ đại. Không chỉ phản ánh quá trình thích nghi của cư dân với môi trường tự nhiên Đông Nam Bộ, văn hóa Đồng Nai còn được xem là nền tảng bản địa góp phần hình thành nền văn hóa Óc Eo và các truyền thống văn hóa Nam Bộ về sau. 

 

10 TH 6

Tuy chỉ trị vì bảy năm song vua Thiệu Trị là ông vua cho ký kiểu đồ sứ nhiều nhất vào thời Nguyễn.Về mặt thẩm mỹ, ĐSKK triều Thiệu Trị đạt đến độ tuyệt hảo về cả hình vẽ, chất lượng men màu và xương đất, có thể sánh với đồ sứ mang các hiệu đề 內府侍... (Nội phủ thị...) và đồ sứ 慶春侍左 (Khánh xuân thị tả) thời Lê - Trịnh. ĐSKK triều Thiệu Trị phong phú về dáng kiểu và chủng loại, nhất là những đồ sứ gia dụng và đồ tế tự.
 

10 TH 6

Trong Hội nghị "Hùng Vương dựng nước" lần thứ 3, năm 1971, giáo sư Đặng Nghiêm Vạn đã khiến cả hội nghị sửng sốt trước thông tin về hiện tượng uống bằng mũi của người Mảng, gắn với ghi chép về tục "tị ẩm" trong truyền thuyết thời Hùng Vương. Bài viết có sử dụng tư liệu và hình ảnh của các đồng nghiệp như Nguyễn Duy Thiệu và sưu tập CQK. Đây là một ghi chép rất ngắn ngủi được tác giả Lĩnh Nam trích quái chép lại khi nói đến phong tục thời Hùng Vương. Theo đó, việc có một số dân tộc thiểu số hiện sinh sống ở nước ta vẫn duy trì việc đưa dung dịch như rượu, nước gia vị cay… qua đường mũi, như một dạng "ẩm thực" kỳ lạ.

 

9 TH 6

Ngoài những loại dao găm Đông Sơn thường thấy thuộc hai dòng chính Tây Âu, Lạc Việt, chúng ta còn bắt gặp một số dao găm ít thấy hơn trong khung cảnh di vật chung của cư dân thời Đông Sơn. Trong buổi "Rì rầm trong tiếng đất" hôm nay, tôi sẽ nhắc đến các loại dao găm này.

7 TH 6

“Theo dấu men rượu trong thạp đồng Đông Sơn: Giải mã một biểu tượng văn hóa Việt cổ”.

2 TH 6

Cho đến nay chưa có bao kiếm Đông Sơn nào còn nguyên vẹn do phần lớn chúng được làm từ chất liệu có nguồn gốc hữu cơ như gỗ, xương, ngà, da... Tuy nhiên, nếu khai quật thận trọng vẫn dễ dàng nhận ra hầu hết các thanh kiếm Đông Sơn đều có một phần ốp bao bằng gỗ hay gỗ sơn then hoặc bọc da thú... đã bị mủn nát theo thời gian, chỉ còn hằn lại vết in trên tầng gỉ sắt của phần lưỡi.

2 TH 6

Trước khi điện trở nên phổ biến, ánh sáng nhân tạo là một thứ tài sản quý giá trong đời sống người Việt. Chỉ vài chục năm trước, những chiếc đèn dầu hỏa hay đèn măng xông vẫn còn là vật dụng không phải gia đình nào cũng dễ dàng sở hữu. Đặc biệt ở vùng nông thôn và miền núi, ánh sáng từ đèn dầu leo lét đã gắn bó với nhiều thế hệ, trong khi những chiếc đèn măng xông sáng trắng thường chỉ xuất hiện trong các dịp lễ nghi, cưới hỏi hay hội họp quan trọng. Phần lớn các loại đèn cổ còn lưu giữ đến nay đều là sản phẩm du nhập từ phương Tây, trong khi đèn dầu truyền thống của người Việt có lịch sử lâu đời hơn rất nhiều.

2 TH 6

Trong hệ thống di sản Việt Nam, đình làng là một loại hình kiến trúc đặc trưng của người Việt và là một loại hình kiến trúc đặc biệt so với nền kiến trúc thế giới. Đình còn tồn tại đến ngày nay có thể nói có tuổi đời khá trẻ so với các loại hình kiến trúc khác của người Việt, ngôi đình sớm nhất hiện còn có niên đại vào thế kỷ 16. Nghệ thuật chạm khắc gỗ trong đình làng là một kho báu vô cùng giá trị của ông cha ta để lại cho nền văn hóa và mỹ thuật Việt Nam. Hình tượng Tiên nữ là đề tài khá phổ biến và đặc sắc nhất của nghệ thuật điêu khắc đình làng.

2 TH 6

Gốm thời Lý là một trong những dấu mốc quan trọng của lịch sử gốm Việt Nam. Sau khi nhà Lý dời đô ra Thăng Long năm 1010, kinh đô mới trở thành trung tâm chính trị, tôn giáo và văn hóa lớn của Đại Việt. Trong bối cảnh ấy, nghề gốm phát triển mạnh, không chỉ phục vụ đời sống thường ngày mà còn đáp ứng nhu cầu của cung đình, kiến trúc Phật giáo, nghi lễ và sinh hoạt tôn giáo.

Điểm đáng chú ý của gốm thời Lý là vẻ đẹp thanh nhã, tinh tế, mềm mại. Khác với gốm thời Trần có xu hướng khỏe khoắn và phóng khoáng hơn, hay gốm thời Lê nổi bật với hoa lam rõ nét, gốm Lý thường gây ấn tượng bằng sắc men dịu, dáng gốm cân đối và hoa văn mang tinh thần Phật giáo. Những dòng men trắng, men trắng ngà, men ngọc, men xanh lục cùng các mô típ hoa sen, hoa cúc, lá đề, rồng, mây, sóng nước đã tạo nên một phong cách riêng của mỹ thuật Đại Việt thế kỷ XI – XIII.

2 TH 6

Gốm cổ Việt Nam thời Lý – Trần – Lê là một mảng tư liệu quan trọng để nhận diện trình độ kỹ thuật, thẩm mỹ và đời sống văn hóa của người Việt trong thời kỳ quân chủ độc lập. Nếu văn hóa Đông Sơn cho thấy đỉnh cao của kỹ thuật luyện kim đồng thau, thì đến thời Lý – Trần – Lê, gốm sứ lại trở thành một trong những chất liệu nổi bật phản ánh đời sống cung đình, tín ngưỡng, sinh hoạt thường ngày và quan hệ giao thương của Đại Việt.

2 TH 6

Chúng ta đã có một chặng dài khảo sát về vũ khí thời Đông Sơn trong chuỗi bài liên quan đến Chiến tranh và Hòa bình thời kỳ này, từ những loại rìu chiến đến các lưỡi qua và dặm dài truy tìm dao găm, gươm kiếm… Tôi dự kiến sẽ tạm kết thúc phần viết về vũ khí Đông Sơn sau loạt bài từ hôm nay về giáo, lao và cuối cùng về cung nỏ, các tấm khiên, mộc.

30 TH 5

Nếu trống đồng là hiện vật tiêu biểu nhất của văn hóa Đông Sơn, thì hoa văn trên trống chính là phần “biết nói” nhất của hiện vật. Ở đó, kỹ thuật đúc đồng, mỹ thuật tạo hình, tín ngưỡng nông nghiệp và tổ chức cộng đồng cùng hiện diện. Nhiều nguồn nghiên cứu hiện nay thường phân hệ thống hoa văn trống đồng Đông Sơn thành các nhóm lớn: hoa văn hình học, hoa văn động vật và hoa văn con người; ba nhóm này tương ứng với ba bình diện trong tư duy biểu tượng của cư dân Lạc Việt: vũ trụ, tự nhiên và xã hội.

29 TH 5

Câu tục ngữ “Đẹp vàng son, ngon mật mỡ” như đúc kết được vẻ đẹp thẩm mỹ của vàng son mà người Việt từ tầng lớp quý tộc đến bình dân đều ưa chuộng. Vàng ở đây là vàng nguyên chất, được dát mỏng và phủ lên đồ gỗ. Bên cạnh vàng, đồ gỗ còn được quét sơn ta màu son đỏ. Nhờ có sắc vàng và đỏ, không gian linh thiêng của chùa, đình, miếu được tôn thêm lên mà không kém phần lộng lẫy.

29 TH 5

Trong hệ thống hiện vật của văn hóa Đông Sơn, thạp đồng là một loại hình rất đáng chú ý. Nếu trống đồng thường được nhắc đến như biểu tượng lớn nhất của văn minh Đông Sơn, thì thạp đồng lại cho thấy một phương diện khác: đời sống sinh hoạt, nghi lễ, tín ngưỡng và khả năng chế tác đồ đồng tinh xảo của cư dân Việt cổ.

Thạp đồng không chỉ là đồ chứa. Ở nhiều trường hợp, nó còn là lễ khí, vật phẩm tùy táng, biểu tượng của địa vị xã hội và là nơi lưu giữ nhiều lớp thông tin về đời sống Đông Sơn. Qua hình dáng, hoa văn và kỹ thuật chế tác, thạp đồng giúp người nghiên cứu nhận diện rõ hơn một xã hội nông nghiệp lúa nước đã phát triển khá cao cách đây hơn hai nghìn năm.

28 TH 5