Tin Tức
Chân đèn hình bò, văn hóa Đông Sơn, cách đây 2.500 - 2.000 năm
Chân đèn hình bò là hiện vật đặc trưng thuộc văn hóa Đông Sơn, có niên đại cách đây khoảng 2.500 - 2.000 năm. Được đúc bằng đồng tinh xảo, những chiếc đèn này thể hiện tư duy thẩm mỹ cao và sự gắn bó của người Việt cổ với nền nông nghiệp lúa nước, khắc họa hình ảnh con bò quen thuộc, thường thấy tại các cuộc trưng bày chuyên đề về đèn cổ.

Gốm men nâu
.jpg)
Men nâu Việt Nam từ trước tới nay, dưới con mắt của một số học giả cho rằng, chúng chỉ có từ thời Lý. Trước và sau đó không hề có.
Men nâu thời Lý - Trần, cho đến nay khó có sự phân biệt rạch ròi. Tuy nhiên, nếu dựa trên những tiêu bản men trắng hoa nâu thời Lý - chủ yếu là các con giống nhỏ, hiện đang trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và chiếc ấm đầu người mình chim thì màu nâu trên gốm thời Lý tươi hơn, giống như màu nâu ngô rang.
Tranh chân dung Nguyễn Quý Kính (1693 - 1766)
Địa điểm lưu giữ
• Vị trí: Nhà thờ họ Nguyễn Quý, thuộc phường Đại Mỗ, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.
• Bối cảnh: Bức tranh được đặt tại gian thờ chính của nhà thờ dòng họ, nơi tôn vinh "Hai đời Tể tướng, ba đời Đại vương" của gia tộc Nguyễn Quý nổi tiếng về khoa bảng.

Tượng phật nhập niết bàn chùa Chèm Triều Lê Trung Hưng
Tượng Phật nhập Niết bàn (còn gọi là chùa Hàm Long) thuộc quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội, là một kiệt tác điêu khắc cổ có giá trị nghệ thuật đặc sắc từ thời Lê Trung Hưng (thế kỷ 17 - 18)

Nghê đứng trên đỉnh đồng
Nghê đứng trên đỉnh đồng nhằm trấn giữ linh khí, như "linh thú canh trời", giữ cho hương khói thanh sạch, ngăn tà khí xâm nhập.
Ấn Tuần phủ Đô tướng quân
NIÊN ĐẠI: Thời Lê Sơ (năm 1515).
LƯU GIỮ: Bảo tàng tỉnh Quảng Bình, được công nhận là bảo vật quốc gia vào ngày 24/12/2018
Ấn Tuần phủ Đô tướng quân là hiện vật bằng đồng có giá trị lịch sử, tiêu biểu cho quyền lực hành chính và quân sự dưới thời Lê sơ. Quả ấn nặng 3,6kg, có núm cầm hình nghê quỳ cao 6,5cm, dài 9,5cm; đế dày 2,5cm; mặt ấn hình vuông kích thước 11 x 11cm. Bên trong mặt ấn là 8 chữ triện đúc nổi, xếp theo 3 hàng dọc với nội dung: “Phụng mệnh Tuần phủ Đô tướng quân ấn”.
Nội dung triện văn này trùng với dòng chữ Hán khắc trên lưng ấn. Ngoài ra, lưng ấn còn có dòng chữ khắc chìm cho biết niên đại chế tác: đúc ngày 16 tháng Mười một năm Hồng Thuận thứ 6, tức năm 1515, dưới triều vua Lê Tương Dực, thời Lê sơ.
Ấm đồng hình voi
Trong văn hóa Việt Nam, voi là biểu tượng của sức mạnh, uy quyền và sự bền vững. Từ thời cổ đại, voi từng được sử dụng trong quân đội và gắn với nhiều giai đoạn lịch sử, vì vậy hình tượng voi còn thể hiện khí phách và sức mạnh của dân tộc.
Gốm men da lươn
Gốm men da lươn là dòng gốm có lớp men phủ bên ngoài mang sắc vàng nâu hoặc nâu sẫm, tạo nên vẻ trầm ấm và cổ kính. Theo các tư liệu hiện biết, loại gốm này chủ yếu được sản xuất tại các lò gốm Phù Lãng (Bắc Ninh) và lò gốm Cậy (Hải Dương). Trong đó, làng gốm Phù Lãng thuộc huyện Quế Võ có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho nghề làm gốm nhờ nguồn nguyên liệu sẵn có, chất đốt dồi dào và tuyến giao thông thủy quan trọng là sông Cầu. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nghề gốm tại đây có thể đã hình thành từ thời Trần.
Men gốm thường được tạo từ tro, bùn hoặc đá son khai thác tại địa phương. Sau khi nung, lớp men chuyển sang màu nâu vàng hoặc nâu đen đặc trưng, được gọi là men da lươn. Các sản phẩm của dòng gốm này khá đa dạng về hình dáng, có tạo dáng đẹp và trang trí công phu. Hoa văn phổ biến là tứ linh (long, ly, quy, phượng), nghê, hạc, chữ thọ, cùng các họa tiết cánh sen, sóng nước hay hồi văn.
Những loại hình tiêu biểu có thể kể đến như ấm hình ngựa, các loại bình và bình vôi, đỉnh, lọ, lư hương, ống điếu và tượng nghê. Trong đó, lư hương hình chữ nhật và lư hương tròn được xem là những sản phẩm đẹp và đặc trưng nhất của dòng gốm men da lươn, thể hiện rõ nét giá trị thẩm mỹ cũng như tay nghề tinh xảo của nghệ nhân gốm truyền thống.
Kiếm ngắn núi Nưa
Niên đại: Văn hóa Đông Sơn.
Lưu giữ: Bảo tàng tỉnh Thanh Hoá, được công nhận là bảo vật quốc gia vào ngày 30/10/2013
Kiếm ngắn Núi Nưa được phát hiện vào năm 1961 dưới chân Núi Nưa, thuộc xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Hiện vật được chế tác bằng đồng, có chiều dài tổng thể 46,5 cm, rộng 5 cm và phần cán dài 18 cm. Kiếm mang kiểu chuôi và lưỡi hình lá tre – đặc trưng tiêu biểu của phong cách nghệ thuật sông Mã trong thời kỳ văn hóa Đông Sơn. Cấu tạo của kiếm gồm hai phần chính là lưỡi và cán. Lưỡi kiếm mỏng, hình lá tre, có hai rìa sắc nhọn, phần chắn tay được tạo hình giống sừng trâu. Phần cán được đúc liền khối với lưỡi kiếm, tạo thành một khối tượng tròn độc đáo, khắc họa hình ảnh người phụ nữ đứng thẳng, ánh nhìn hướng về phía trước, hai tay khuỳnh chống nạnh, toát lên vẻ uy nghi và quyền lực.
Đây được xem là một trong những cây kiếm ngắn tiêu biểu và đặc sắc của thời đại văn hóa Đông Sơn, nổi bật bởi phần cán được trang trí tượng người phụ nữ với nghệ thuật tạo hình tinh xảo. Vẻ đẹp của bức tượng thể hiện rõ qua hình thể cân đối, trang phục và trang sức được thể hiện cầu kỳ, cùng phong thái đĩnh đạc, đầy quyền uy và bản lĩnh. Không chỉ là một vũ khí, kiếm ngắn Núi Nưa còn là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo, phản ánh trình độ chế tác đồng điêu luyện, quan niệm thẩm mỹ tinh tế cũng như đời sống văn hóa phong phú của cư dân Đông Sơn.
Sửa thang máy, lọt vào thế giới 2.000 năm trước dưới hầm khách sạn
Theo Ancient Origins, vào giữa năm 2023, các công nhân lắp đặt trục thang máy tại khách sạn Gran Hotel Barcino ở phường Gothic, TP Barcelona Tây Ban Nha đã vô tình tìm thấy những phiến đá cổ được sắp xếp thẳng hàng hoàn hảo, nằm ở độ sâu 2,5 mét bên dưới tầng hầm của tòa nhà.

Gốm sành Phù Lãng
Làng gốm Phù Lãng thuộc xã Phù Lãng huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Nằm bên bờ sông Cầu thơ mộng, Phù Lãng có phong cảnh hữu tình của đất Kinh Bắc, có đường giao thông thủy rất thuận lợi cho việc chuyên chở nguyên vật liệu và sản phẩm gốm. Cùng với Thổ Hà (Bắc Giang), Bát Tràng (Hà Nội), Phù Lãng được coi là một trong 3 trung tâm gốm cổ truyền ở đồng bằng Bắc bộ.

Cây đèn đồng hình người quỳ
Niên đại: Văn hóa Hậu Đông Sơn
Nơi lưu giữ: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, thành phố Hà Nội, được công nhận là bảo vật quốc gia vào ngày 01/10/2012
Cây đèn đồng hình người quỳ được phát hiện tại Lạch Trường, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Hiện vật thể hiện hình ảnh một người đàn ông mình trần, đóng khố, trong tư thế quỳ, hai tay nâng đỡ đĩa đèn. Khuôn mặt tượng bầu bĩnh, mắt mở to, miệng hơi mỉm cười, đầu đội vương miện và tóc búi chỏm.
Hai vai và phía sau tượng gắn ba thanh cong hình chữ S, mỗi thanh nâng một đĩa đèn và kèm theo một hình người đang quỳ. Trên hai đùi và phía sau tượng còn có bốn nhạc công cũng trong tư thế quỳ, trong đó có hai người đang thổi sáo. Tay và cổ tay của tượng đeo trang sức, tai đeo khuyên tròn lớn. Phần vai và quanh bụng được trang trí bằng các mô típ chuỗi hoa sen tinh xảo.
Đây là cây đèn hình người có kích thước lớn nhất trong số ít những cây đèn cùng loại thuộc giai đoạn cuối của văn hóa Đông Sơn. Hiện vật không chỉ phản ánh sự giao thoa văn hóa trong khu vực trên nền tảng văn hóa Đông Sơn bản địa, mà còn cho thấy trình độ kỹ thuật đúc đồng tinh xảo và gu thẩm mỹ cao của cư dân cổ.
KHUÔN IN TÍN PHIẾU MỆNH GIÁ 5 ĐỒNG
Niên đại: Năm 1947
Lưu giữ: Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh, được công nhận là bảo vật quốc gia ngày 24/12/2018
Khuôn in tín phiếu mệnh giá 5 đồng hay còn gọi là bản kẽm (cliché), có dạng hình chữ nhật 10,5 x 5,5 cm, dày 0,5 cm, chất liệu hợp kim đồng dùng để in mặt trước và mặt sau của tờ tín phiếu. Khuôn in hình chữ nhật, có khắc hình chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, quốc hiệu “VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA” và chữ ký của các đồng chí lãnh đạo cách mạng, cùng những hoa văn dân gian mang những nét đặc trưng của đất nước Việt Nam.
Khuôn in tín phiếu mệnh giá 5 đồng là một tư liệu khoa học quan trọng, phục vụ việc nghiên cứu về lịch sử, văn hóa, ngân hàng, mỹ thuật, nghề đúc kim loại… của đất nước. Đây là khuôn in tín phiếu mệnh giá 5 đồng duy nhất còn lưu giữ được.
Sưu tập đĩa vàng hoa sen Cộng Vũ
Niên đại: Thời Lý (thế kỷ XI – XII).
Lưu giữ: Kho bạc Nhà nước tỉnh Hưng Yên, được công nhận là bảo vật quốc gia vào ngày 31/12/2020
Thạp Đồng Đào Thịnh
Niên đại: thế kỷ III-II TCN thời kỳ văn hoá Đông Sơn
Lưu trữ: bảo tàng lịch sử quốc gia Hà Nội.
Gốm hoa lam độc sắc Việt Nam
Gốm hoa lam, hay còn gọi là gốm men trắng vẽ lam của Việt Nam, xuất hiện muộn hơn so với gốm men trắng vẽ lam thời Nguyên của Trung Quốc. Trong khi gốm thời Nguyên nổi bật với màu lam tươi sáng, rực rỡ, thì ở Việt Nam ban đầu xuất hiện loại men hơi mờ, được xem là giai đoạn tiền men trắng vẽ lam. Những tiêu bản sớm thường là các loại âu, bát, ống nhổ, ấm… phủ men trắng, quanh miệng có một hoặc hai đường chỉ lam và thân gốm đôi khi trang trí họa tiết lá. Các phát hiện khảo cổ tại Xóm Hống (Hải Dương) và Kim Lan (Gia Lâm) cho thấy loại gốm này đã xuất hiện từ cuối thế kỷ XIV, tức thời Trần.
Tượng Phật Nhơn Thành
Niên đại: thế kỷ IV - VI sau Công nguyên thuộc thời kỳ văn hóa Óc Eo.
Lưu trữ: bảo tàng thành phố Cần Thơ được công nhận là Bảo vật quốc gia vào ngày 31/12/2013.
Chất liệu làm bằng gỗ, kích thước không lớn tư thế tượng đứng thẳng, hơi lệch hông (dáng tribhanga – đặc trưng nghệ thuật Ấn Độ), khuôn mặt hiền từ, thanh thoát, thể hiện vẻ từ bi của Đức Phật, tóc xoắn ốc nhỏ, trên đỉnh có nhục kế, trang phục mặc áo cà sa dài, ôm sát thân, rủ xuống chân bệ tượng đứng trên tòa sen hai tầng, phong cách mang ảnh hưởng nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ kết hợp với phong cách địa phương thời văn hóa Óc Eo.
Hoa văn trên trống đồng Đông Sơn : Di sản tạo hình của người Việt cổ
Trống đồng Đông Sơn không chỉ gây ấn tượng bởi dáng vẻ đồ sộ, kết cấu tinh xảo và vẻ đẹp thẩm mỹ, mà còn là biểu tượng tiêu biểu của nền văn minh Việt cổ. Nếu bản thân chiếc trống là nơi hội tụ tư duy, kỹ thuật và trình độ chế tác của người Đông Sơn, thì hệ thống hoa văn trên đó chính là phần thể hiện sâu sắc nhất đời sống tinh thần của họ. Những hình ảnh như vòng xoắn ốc, chim lạc, người nhảy múa hay ngôi sao nhiều cánh không đơn thuần để trang trí, mà là một dạng “ngôn ngữ” bằng hình khắc. Qua đó, người xưa gửi gắm cách nhìn về vũ trụ, con người, tín ngưỡng và nếp sống cộng đồng. Nghiên cứu hoa văn trên trống đồng vì thế cũng là cách giải mã tri thức, ký ức và đức tin của một thời chưa có chữ viết.
Gốm Thổ Hà
nét riêng khác biệt nhất của gốm Thổ Hà, ấy là loại gốm không có men, nung nhiệt độ cao mà tạo ra sành với nhiều sắc độ màu đen, màu nâu, màu cánh gián, màu đỏ gạch…

Long đình gốm Bát Tràng
Niên đại: Thế kỷ XVII.
Lưu giữ: Bảo tàng Hà Nội, được công nhận là bảo vật quốc gia vào ngày 25/12/2015
Long đình gốm Bát Tràng là một sản phẩm gốm thờ độc đáo của làng gốm Bát Tràng thế kỷ XVII. Long đình cao 59,7cm, đường kính đáy 28cm, tạo dáng tương tự loại long đình bằng gỗ chạm sơn son thếp vàng, có cấu tạo gồm 3 phần liền nhau: mái, thân và chân đế. Đỉnh mái hình búp sen, 4 mặt mái hình thang cân, các góc mái uốn cong, 4 đầu góc tạo hình mây lửa. Thân hình khối hộp chữ nhật. Mặt trước có tường vây lan can. Chân đế hình khối hộp chữ nhật 2 cấp.
Long đình có hoa văn kết hợp trang trí nổi để mộc với vẽ lam. Đề tài trang trí nổi không men, gồm các băng cánh sen đầu vuông, hoa sen, hoa cúc hình ô van, hình rồng, hình nghê. Đặc biệt, hình rồng với các bố cục: rồng nổi, đuôi vút lên trên, hai chân trước chống, đầu uốn lên khuôn trong hình chữ nhật. Hình nghê chạm nổi theo cặp đối xứng, hai chân trước quỳ, hai chân sau chống, đầu chúc xuống, đuôi vút lên. Phần chân đế chạm hoa văn hình mây cuốn. Trên 4 mặt của mái vẽ 4 dải mây men lam. Men phủ của long đình màu trắng rạn điểm thêm men màu xanh rêu.

Gốm men rạn ngà
Men rạn ngà là dòng gốm độc bản của làng Bát Tràng, mang trong mình những giá trị lịch sử và ý nghĩa phong thủy sâu sắc.
.jpg)
Gốm men rạn ngà
Men rạn ngà là dòng gốm độc bản của làng Bát Tràng, mang trong mình những giá trị lịch sử và ý nghĩa phong thủy sâu sắc.

Gốm men lam xám độc sắc Việt Nam
Gốm men lam xám ở Việt Nam xuất hiện khá muộn, khoảng thế kỷ XV, trong khi ở Trung Quốc dòng men này đã có từ thời Nguyên với màu xanh nhạt, lớp men bóng và mỏng. Ở Việt Nam, men lam xám thời kỳ đầu thường dày, màu đậm và đôi khi ngả tím. Loại hình phổ biến là ang bụng nở, chân đèn hai thớt, trang trí hoa văn chìm như cánh sen, hoa dây, bố cục chặt chẽ và mang phong cách nghệ thuật thời đầu Lê.
Đến thời Lê – Mạc, men lam xám được sử dụng nhiều trên chân đèn, lư hương và các đồ thờ. Hoa văn thường là rồng, mây, họa tiết dao mác, nhiều hiện vật còn khắc tên tác giả, tiêu biểu là Đặng Huyền Thông, với trung tâm sản xuất nổi tiếng ở Chu Đậu (Hải Dương). So với giai đoạn trước, màu men nhạt và mỏng hơn, kết hợp với minh văn và họa tiết trang trí giúp nhận biết niên đại.
Sang thế kỷ XVII, gốm men lam xám vẫn tiếp tục tồn tại nhưng không còn phổ biến. Các tiêu bản đặc trưng là ấm hình cầu, vòi cao, chân loe, trên nắp có tượng nghê đắp nổi. Đây được xem là giai đoạn cuối của dòng gốm men lam xám Việt Nam, và sắc độ men lúc này không khác nhiều so với thời Lê – Mạc.

Bình về hai bức “Đồng Bản Hoạ” thời vua Càn Long Trung Hoa liên quan đến sự thật lịch sử vừa đấu giá ở nước ngoài vào tháng 5-2011
Hai bức tranh “ĐỒNG BẢN HỌA” thời vua CÀN LONG Trung Hoa liên quan đến lịch sử nước ta vừa được bán đấu giá ở nước ngoài
Đồng bản họa (copper-plate engraving) là những bức tranh được thực hiện bằng kỹ thuật in chuyển họa tiết được khắc trên những tấm bản bằng đồng sang giấy. Kỹ thuật này do người châu Âu phát minh từ thời trung cổ và được du nhập vào Trung Hoa từ thế kỷ XVI, khi các giáo sĩ phương Tây mang những bức tranh in này tặng cho quan lại và quý tộc Trung Hoa.
Do kỹ thuật chế tác đồng bản họa rất phức tạp, từ việc vẽ tranh mẫu trên các phiến đồng, đến chạm khắc họa tiết lên nền kim loại, rồi lăn mực và in ấn thành tranh (thường kéo dài đến 6 tháng cho một bức tranh) nên kỹ thuật này chỉ dùng để in những tác phẩm thật đặc biệt.Do vậy, số tranh đồng bản họa của Thanh triều không nhiều, chủ yếu là tranh do các vua Khang Hi (1662-1723), Càn Long (1735-1796) và Đạo Quang (1821-1850) cho thực hiện để tặng cho các quan đại thần, những người có công với triều đình và các sứ thần lân bang khi họ đi sứ sang Thanh. Trong đó, người cho vẽ tranh đồng bản họa nhiều nhất là vua Càn Long.

Địa Chỉ Cửa Hàng Chúng Tôi
Hotline: 098.13.02468
Email: contact@laocovat.com
Địa chỉ: 332 Âu Cơ - Nhật Tân - Tây Hồ - Hà Nội