Tư vấn thẩm định cổ vật

Trang chủ / Tin Tức

Tin Tức

Kỹ thuật đúc trống đồng Đông Sơn: Từ bí ẩn lịch sử đến lời giải khảo cổ

Kỹ thuật đúc trống đồng Đông Sơn: Từ bí ẩn lịch sử đến lời giải khảo cổ

Trống đồng Đông Sơn không chỉ là báu vật của nền văn minh Việt cổ mà còn là minh chứng cho trình độ luyện kim đạt đến đỉnh cao của cư dân thời kỳ Hùng Vương – An Dương Vương. Suốt hơn một thế kỷ qua, quy trình chế tác nên những kiệt tác này là một trong những chủ đề thu hút nhiều tâm sức nhất của giới nghiên cứu. 

Lịch sử Gốm Sứ: Từ thời cổ đại đến nghệ thuật hiện đại

Lịch sử Gốm Sứ: Từ thời cổ đại đến nghệ thuật hiện đại

Gốm sứ, nghệ thuật tạo hình và nung đất sét, là một trong những nghề thủ công lâu đời và bền bỉ nhất của nhân loại. Từ các nền văn minh cổ đại đến các xưởng sáng tác đương đại, gốm sứ luôn đóng vai trò quan trọng trong đời sống, văn hóa và nghệ thuật. Bài viết này khám phá hành trình hấp dẫn của gốm sứ từ thời cổ đại đến hiện đại, làm nổi bật những bước phát triển và đổi mới then chốt đã định hình loại hình nghệ thuật vượt thời gian này.

 

Cổ phục nhà Nguyễn: Triều phục và ngôn ngữ quyền lực

Cổ phục nhà Nguyễn: Triều phục và ngôn ngữ quyền lực

Trong lịch sử trang phục Việt Nam, ít giai đoạn nào để lại hệ thống hiện vật phong phú và có tính hệ thống như triều Nguyễn. Từ long bào hoàng đế đến triều phục quan lại, mỗi tấm áo là tài liệu sống ghi chép lại quy chế, thẩm mỹ, và tư tưởng của một xã hội.

Tạo âm Đông Sơn: Nhạc chuông Đông Sơn - tiếng rung vang thần thánh, quý tộc

Tạo âm Đông Sơn: Nhạc chuông Đông Sơn - tiếng rung vang thần thánh, quý tộc

Nhạc chuông Đông Sơn là một đề tài đáng được chú ý trong khi nghiên cứu về tạo âm Đông Sơn. Về nguyên tắc, chúng tôi vẫn xếp nhạc chuông vào “bộ gõ” khi tiếng vang được phát ra nhờ va đập của hai vật thể và âm vang (echo) nhờ một vòm chứa âm.

Tự hào gốm Việt: Thủy tộc trên tửu cụ gốm Việt

Tự hào gốm Việt: Thủy tộc trên tửu cụ gốm Việt

Gốm Việt cổ, khi đến thời Lê Mạc (1527 - 1592) và Lê Trung hưng (1533 - 1788), bắt đầu xuất hiện những tạo dáng khác lạ, nổi bật là các ấm rượu hình tôm cá.

Ở thời Lê sơ (1428 - 1527), gốm Việt lẫy lừng với hoa lam Chu Đậu, xuất dương giao thương qua các trung tâm kinh tế lớn và cảng thị sôi động như vùng Thăng Long - Kẻ Chợ, Phố Hiến, bến Vân Đồn, Hội An... Việc phát triển kinh tế cộng với ổn định đương triều khiến Đại Việt thêm hùng mạnh. Nhà Mạc lên ngôi, không được “người cũ” hậu thuẫn, nội bộ lủng củng với “phù Lê diệt Mạc” khiến đất nước lộn xộn, hẳn cũng là nguyên do khiến tay nghề lẫy lừng của gốm hoa lam thành thất truyền.

Tự hào gốm Việt: Gốm men ngọc, tuyệt diêu Đại Việt

Tự hào gốm Việt: Gốm men ngọc, tuyệt diêu Đại Việt

Hiếm, quý, đắt giá, khó tác tạo... là những nhận định khi đề cập về gốm men ngọc. Thật tự hào trong kỹ thuật chế tác gốm Đại Việt xưa, men ngọc cũng đã từng vang bóng.

"Tạo âm" Đông Sơn: Sau trống luôn là chiêng

Trong ngôn ngữ Việt thì "trống chiêng" là một liên từ ám chỉ sự rộn ràng của âm vang lễ hội, cũng như sau này gắn với cặp từ "kèn trống". Kỳ này, tôi xin kể thêm về trống Đông Sơn và tiếp nối đến "chiêng" Đông Sơn. Đây là sự tiếp nối rất tự nhiên và logic mà cư dân Đông Sơn đang nắm giữ những bằng chứng sinh động nhất của cuộc tiếp nối này.

Tự hào gốm Việt: Huyền thoại ấm cánh sen

Tự hào gốm Việt: Huyền thoại ấm cánh sen

Xuyên suốt chiều dài phát triển lịch sử văn hóa mỹ thuật Việt, sen là đề tài bất tận, xuất hiện trong thi ca, hội họa và gốm cũng không là ngoại lệ, đặc biệt trên các hiện vật ở giai đoạn Lý - Trần (thế kỷ 11 - 15), tiêu biểu là ấm.

Tạo âm và thưởng âm Đông Sơn: Bắt đầu với bộ gõ: trống đồng

Tạo âm và thưởng âm Đông Sơn: Bắt đầu với bộ gõ: trống đồng

Do sự quá nổi tiếng của trống đồng, tôi không muốn mất nhiều thời gian mô tả những trống lớn và đẹp nhất nữa mà dành thời lượng để bàn về cách chế tác và sử dụng trống đồng ra sao với tư cách chúng là đại biểu phổ biến nhất, long trọng nhất của nghệ thuật tạo âm Đông Sơn.

Hoà Bình: Trống đồng di sản văn hóa Mường

Hoà Bình: Trống đồng di sản văn hóa Mường

Người Mường ở Hòa Bình luôn tự hào là cái nôi của nền Văn hóa Hòa Bình, nơi bảo tồn, lưu giữ gần trăm chiếc trống đồng. Hoà Bình cũng là một trong những tỉnh phát hiện và lưu giữ nhiều trống đồng đứng thứ hai
trong cả nước chỉ sau tỉnh Thanh Hoá.
Cồng Chiêng - lưu giữ nét văn hoá đặc sắc của người Mường ở Hoà Bình
Hoà Bình: Bảo tồn và phát huy giá trị Mo Mường

Nghệ thuật tạo hình trên trống Mường

Nghệ thuật tạo hình trên trống Mường

Những ai đã từng về Đền Hùng thắp hương trong ngày giỗ Tổ đều được chiêm ngưỡng cảnh đánh trống đồng. Những nam thanh nữ tú người Mường ở hai huyện Thanh Sơn và Tân Sơn của tỉnh Phú Thọ đã biểu diễn đánh trống như hai ngàn năm qua cha ông họ vẫn đánh trống như vậy. Không chỉ ở hai huyện của Phú Thọ mà người Mường còn có mặt ở Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An và một số tỉnh ở Tây Bắc nữa. Trống đồng là một trong những di sản lớn nhất của người Mường. Họ đánh trống trong những dịp vui như cưới xin, năm mới, lễ hội và cả trong những nghi lễ tâm linh.
 

Ông Bình Vôi - Linh hồn của tục ăn trầu

Ông Bình Vôi - Linh hồn của tục ăn trầu

Bạn đã bao giờ tự hỏi, tại sao trong hàng nghìn món đồ cổ, chỉ có chiếc bình vôi lại được người xưa kính cẩn gọi là "Ông"?

Tạo âm và thưởng âm Đông Sơn:

Tạo âm và thưởng âm Đông Sơn: "Giấc mơ" khai quật các tầng âm thanh cổ

Bắt đầu từ hôm nay, chúng ta sẽ cùng nhau đi vào một lĩnh vực rất thú vị của thời Đông Sơn, đó là nghệ thuật tạo âm và thẩm - thưởng âm thanh, giai điệu Đông Sơn. Đối với khoa học khảo cổ cho tới hôm nay thì âm thanh là thứ không dễ "khai quật" được như là các vết tích khác của đời sống con người. Tuy nhiên, từ những năm đầu 1970, khi bắt đầu với các chuyên ban sâu của ngành sử, tôi đã từng nảy ra ý định "khai quật" các tầng âm thanh cổ đại.

Nghề Mộc & Chạm khắc gỗ: Khi

Nghề Mộc & Chạm khắc gỗ: Khi "Mộng" và "Mộc" kể chuyện thời gian

“Mùn cưa nhóm bếp còn thơm hơn trầm” - câu ca dao được tác giả Vũ Từ Trang trích dẫn trong Nghề cổ đất Việt đã gói gọn cả tâm hồn của người thợ mộc xưa. Với họ, nghề không chỉ là đục đẽo, mà là sự giao hòa giữa con người và hơi thở của thiên nhiên. Để bước chân vào thú chơi đồ gỗ cổ, người mới cần hiểu được "linh hồn" nằm trong những khớp mộng và đường đục.

Khảm xà cừ: Ánh sắc ngàn năm trên nền sơn ta 08:00, 01/09/2025

Khảm xà cừ: Ánh sắc ngàn năm trên nền sơn ta 08:00, 01/09/2025

Xuất hiện từ hàng nghìn năm trước trong “vành đai sơn mài” châu Á, kỹ nghệ khảm xà cừ đã theo bước giao lưu văn hóa mà bén rễ, rồi nở hoa rực rỡ trên đất Việt.

Trống đồng Đông Sơn: Âm vang của nền văn minh lúa nước

Trống đồng Đông Sơn: Âm vang của nền văn minh lúa nước

Với dáng vẻ đồ sộ, kết cấu tinh xảo và hệ thống hoa văn phong phú, trống đồng Đông Sơn đã vượt xa chức năng nhạc cụ ban đầu để trở thành biểu tượng kết tinh tư duy, tín ngưỡng và thẩm mỹ của cả một nền văn minh.

Lịch sử ngắn gọn về đồ sứ hoàng gia Trung Quốc

Lịch sử ngắn gọn về đồ sứ hoàng gia Trung Quốc

Vào thời nhà Minh (1368-1644), sau khi chế độ Mông Cổ kết thúc dưới triều đại nhà Nguyên (1279-1368), triều đình của Hoàng đế Hồng Vũ (1368-1398) đã kiểm soát chặt chẽ ngành buôn bán đồ sứ phát triển mạnh mẽ và tự do, xuất khẩu sang các vùng khác ở châu Á và thậm chí đến tận châu Âu . Việc tạo ra những sản phẩm tinh xảo và đồ dùng hoàng gia bắt nguồn từ Cảnh Đức Trấn – niềm tự hào của triều đình.


Triều đại Minh và Thanh đặc biệt nổi tiếng với những thành tựu tinh xảo trong nghề làm đồ sứ, một phần không nhỏ là nhờ sự bảo trợ to lớn của các hoàng đế, những người chỉ có thể tìm thấy sự thỏa mãn trong tay nghề thủ công tinh xảo nhất.

PHÁT HIỆN LUẬN NGỮ TỀ: THẤT TRUYỀN 1,800 NĂM

PHÁT HIỆN LUẬN NGỮ TỀ: THẤT TRUYỀN 1,800 NĂM

Phát hiện tại Bảo tàng Nam Xương cho thấy phần tác phẩm thất truyền của Khổng Tử, thuộc phiên bản nước Tề, lần đầu công khai trước công chúng. Các thẻ tre chứa nội dung chương 'Tri Đạo' của Luận Ngữ nước Tề được trưng bày tại khu Hải Hôn. Các hiện vật gồm hơn 100 thẻ tre, thẻ gỗ và bảng ghi, phục chế từ mộ Hải Hôn hầu Lưu Hạ, Tây Hán. Mỗi thẻ dài khoảng 25,8 cm, ghi trung bình 24 ký tự, văn bản đồng đều, không có dấu câu. Khoảng một phần ba nội dung có thể đọc được, bao gồm chương 'Tri Đạo'. Phát hiện gợi ý sự tồn tại của Luận Ngữ nước Tề, thất truyền từ thời Hán–Ngụy. 

Đây là phát hiện khảo cổ đáng chú ý, mở thêm góc nhìn về đời sống học thuật Tây Hán. Luận Ngữ có ba phiên bản: Lỗ, Tề và cổ văn; nước Tề có hai chương bổ sung nhưng thất truyền.

Ấn “Hoàng đế tôn thân chi bảo”

Ấn “Hoàng đế tôn thân chi bảo”

Niên đại: Thời Nguyễn (năm 1827)
Lưu giữ: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, thành phố Hà Nội, được công nhận là bảo vật quốc gia ngày 25/12/2021

Ấn “Hoàng đế tôn thân chi bảo” được đúc từ vàng 10 tuổi, có kết cấu hai tầng hình vuông vững chãi. Phần quai ấn được tạo tác dưới hình tượng rồng uốn lượn đầy uy nghi: đầu ngẩng vươn về phía trước, hai sừng dài, đuôi xòe thành chín dải như ngọn lửa, chân rồng nổi bật với năm móng sắc nét, thể hiện rõ khí thế quyền uy của bậc đế vương.

Không chỉ nổi bật ở chất liệu quý hiếm, ấn còn đặc sắc ở hình thức tạo tác, bố cục và nghệ thuật trang trí. Hình tượng rồng lớn được thể hiện theo dạng khối tròn, chạm đúc công phu, tinh xảo, tạo nên tổng thể bề thế mà vẫn sống động. Với trọng lượng 8,983 kg vàng, đây là chiếc ấn nặng nhất trong bộ sưu tập ấn triện bảo vật của hoàng cung triều Nguyễn, đồng thời cũng là hiện vật có trọng lượng lớn bậc nhất trong hệ thống ấn chương của các triều đại phong kiến Việt Nam hiện còn được biết đến.

Vượt lên giá trị của một hiện vật kim hoàn, ấn “Hoàng đế tôn thân chi bảo” còn là biểu tượng tập trung của quyền lực vương triều Nguyễn. Đồng thời, đây cũng là nguồn sử liệu quý, góp phần phản ánh rõ hơn dấu ấn về một giai đoạn thịnh trị dưới thời vua Minh Mạng.
 

Thú chơi di sản của

Thú chơi di sản của "Thiên nga bạc" quyền lực nhất nhì showbiz châu Á: Sưu tầm vương miện cổ, nâng tầm địa vị với ngọc phỉ thúy

Không phô trương tài sản bằng những bộ đầm Haute Couture hay siêu xe ồn ào, "Thiên hậu" quyền lực bậc nhất châu Á chọn một cách tàn khốc hơn để định đoạt đẳng cấp.

Bình gốm men vẽ nhiều màu

Bình gốm men vẽ nhiều màu

Niên đại: Thời Lê sơ (thế kỷ XV)
Lưu giữ: Bảo tàng tỉnh Quảng Ninh, được công nhận là bảo vật quốc gia ngày 25/12/2021

Bình gốm men vẽ nhiều màu cao 46cm, đường kính thân lớn nhất 30,5cm, có dáng hình trụ tròn cấu trúc thành 3 phần: miệng, thân và đế. Miệng bình giống như hình phễu, cổ thót lại so với miệng; thân phình to, dáng cong hình cầu và thót dần rồi nhập vào đế. Đế có dáng uốn cong, mép đế thẳng tạo thế vững chãi của bình.

Bình được phủ men kín cả trong lẫn ngoài, mép miệng cao men; đáy không phủ men mà tô son nâu. Toàn bộ mặt ngoài từ miệng xuống đến chân đế được trang trí hoa văn với đồ án hoa văn chính là hai con rồng bay lượn vờn ngọc báu, các họa tiết hoa văn hình học, hoa lá làm nền tôn hoa văn chính. Các họa tiết, hoa văn được vẽ bằng nhiều màu, trong đó xanh lam và đỏ nâu là hai màu chủ đạo, kim loại vàng cũng được dùng để vẽ trên bình dù cơ bản đến nay đã bị bay màu. Sự kết hợp hài hòa giữa màu vẽ và màu nền men trắng tạo hiệu ứng tuyệt vời cho các đồ án.

Bình gốm men vẽ nhiều màu chứa đựng những giá trị tiêu biểu về nghệ thuật, trình độ thẩm mỹ cũng như kỹ nghệ sản xuất gốm sứ Đại Việt thời Lê sơ.

Cửu phẩm liên hoa chùa Giám

Cửu phẩm liên hoa chùa Giám

Niên đại: Thế kỷ XVII
Lưu giữ: Chùa Giám, xã Cẩm Sơn, huyện Cẩm Giang, tỉnh Hải Dương.

Cửu phẩm liên hoa chùa Giám có tên gọi khác là Cửu phẩm liên hoa Nghiêm Quang tự, hình lục giác đều, có tổng chiều cao 6,52m, nặng khoảng 4 tấn.
Tâm của cây cửu phẩm là cột trụ chất liệu gỗ lim được đặt lên một cối quay (cối quay chất liệu kim loại có chiều cao khoảng 40cm). Mỗi tầng chạm 5 lớp cánh sen, lớp dưới cùng các cánh sen úp xuống nhỏ nhất, chạm xuôi theo mặt lục giác phía thân cây phẩm. Trên mỗi mặt bằng ván/tầng của tòa cửu phẩm đặt 3 pho tượng Phật: tượng A Di Đà ngồi giữa; 2 tượng Quan Âm đứng trên đài sen hai bên. Như vậy mỗi tầng có 18 pho tượng cùng với 1 pho tượng A Di Đà trên đỉnh tháp, tổng cộng toàn bộ cây phẩm có 145 pho tượng Phật.
Tòa cửu phẩm liên hoa chùa Giám cùng với các tòa cửu phẩm khác phản ánh đặc trưng của Phật giáo Việt Nam: đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa các yếu tố Thiền - Tịnh - Mật trong thế kỷ XVII. Tòa cửu phẩm là một bộ phận quan trọng trong cấu trúc tổng thể của một ngôi chùa có liên quan tới Đại danh y, Thiền sư Tuệ Tĩnh thời Trần với tinh thần “thuốc Nam trị bệnh cho người Nam”
 

Đĩa gốm men lam tím

Đĩa gốm men lam tím

Niên đại: Thời Lê sơ (thế kỷ XV)
Lưu giữ: Sưu tập Bảo vật An Biên, thành phố Hải Phòng, được công nhận là bảo vật quốc gia ngày 30/01/2023 
Đĩa gốm men lam tím vẽ vàng kim trên men qua lần nung thứ hai. Đĩa có trang trí vàng kim như một loại men độc sắc. Các hoa văn trang trí đến nay tuy nhiều chỗ mòn mờ nhưng mang đặc trưng rõ rệt của đồ gốm thời Lê sơ như băng cánh hoa đặc trưng, hoa lan, băng dây hoa mai, băng cánh sen kép, bên trong vẽ nửa bông hoa và dải xoắn ốc.
Kỹ thuật vẽ men trên gốm này mềm mại, điêu luyện, có thể sánh ngang với loại đồ gốm thủy lam thời Minh, thế kỷ XV. Đây là một đĩa gốm men cao cấp của lò gốm Thăng Long, thuộc dòng đồ gốm phục vụ hoàng cung và xuất khẩu hay quà tặng biếu của hoàng gia thời Lê sơ.
Kỹ thuật sử dụng men lam tím vẽ trang trí vàng kim trên men qua lần nung thứ hai là một hiện tượng đột phá, tạo nên một khuynh hướng, một phong cách mới trong sản xuất gốm sứ cao cấp phục vụ hoàng cung thời Lê sơ. Chiếc đĩa gốm này còn là tài liệu chuẩn góp phần so sánh, đối chiếu xác định niên đại cho nhiều hiện vật gốm men lam tím cùng thời.
 

Trống Đồng Quảng Chính bảo vật quốc gia

Trống Đồng Quảng Chính bảo vật quốc gia

Niên đại: thế kỷ III - II trước Công Nguyên 
Lưu trữ: bảo tàng tỉnh Quảng Ninh 

Đặc điểm: Trống đồng Quảng Chính là một hiện vật tiêu biểu thuộc văn hoá Đông Sơn, có hình dáng cân đối với ba phần rõ rệt gồm mặt trống, tang trống và chân trống, trong đó mặt trống rộng và phẳng, tang hơi phình ra còn chân thu nhỏ dần tạo sự vững chắc; chính giữa mặt trống là hình ngôi sao nhiều cánh tượng trưng cho mặt trời, xung quanh được trang trí các vòng hoa văn phong phú như hình người nhảy múa, đánh trống, giã gạo, hình chim Lạc, hươu nai, thuyền cùng các hoạ tiết hình học như vòng tròn đồng tâm, răng cưa được sắp xếp hài hoà; trống được đúc bằng đồng nguyên khối với kỹ thuật luyện kim cao, hoa văn sắc nét chứng tỏ trình độ thủ công phát triển của cư dân cổ; thân trống thường có 2 đến 4 quai để khiêng hoặc treo và cũng được trang trí đồng bộ; không chỉ là nhạc cụ dùng trong nghi lễ và lễ hội, trống đồng Quảng Chính còn mang giá trị lớn về lịch sử và văn hoá, phản ánh đời sống sinh hoạt, tín ngưỡng và tư duy thẩm mỹ của người Việt cổ.
 

3 4 5 6 7 8 9 10 11

Địa Chỉ Cửa Hàng Chúng Tôi

Hotline: 098.13.02468

Email: contact@laocovat.com

Địa chỉ: 332 Âu Cơ - Nhật Tân - Tây Hồ - Hà Nội